Thứ Năm, 12 tháng 12, 2019

CHỮ VÀ SỰ BẤT LỰC CỦA NHÀ VĂN


Tham luận của NGUYÊN TÙNG

Tôi bắt đầu tham gia hoạt động văn học địa phương – tỉnh Bến Tre – từ cuối năm 1977. Như vậy, nếu tính dấu mốc lịch sử 30-4-1975 đến 30-4-2020 để có lộ trình 45 năm văn học Đồng bằng sông Cửu Long thì tôi may mắn đồng hành gần suốt cả đoạn đường, dù chỉ một trong tổng thể 13 tỉnh thành trong khu vực. Cho nên ở tham luận này, tôi xin phép được nói lên những suy nghĩ của mình về tiến trình phát triển của văn học, nhất là đội ngũ viết văn xuôi của tỉnh Bến Tre trong non nửa thế kỷ qua.
Có thể nói đội ngũ sáng tác văn học ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, tỉnh Bến Tre nói riêng chỉ được hình thành từ sau ngày thống nhất đất nước. Trước năm 1975 trong các đô thị miền Nam, giới văn chương chỉ tập trung ở Sài Gòn – thủ đô của Việt Nam Cộng hòa. Ở tỉnh lẻ, nếu có, chỉ là một vài cá nhân tự phát, sáng tác rồi gửi đăng các báo, tạp chí ở đô thành. Sau 30-4-1975, mỗi tỉnh đều có một bộ phận sáng tác văn học từ trong chiến khu ra, tiếp tục xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ địa phương. Gọi là bộ phận chứ thật ra chỉ vài ba anh chị sáng tác thơ, ký, mẩu chuyện là chính, phục vụ cho các mặt phong trào chính trị của địa phương. Nhưng chính các anh chị là nòng cốt, cố công tìm tòi, phát hiện những cây viết mới có triển vọng, tập hợp lại thành đội ngũ sau này. Rồi Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh được thành lập, lực lượng sáng tác có phần chuyên nghiệp hơn. Chính thời điểm này ý thức nghề nghiệp, trường phái sáng tác, vai trò của văn học, trách nhiệm của nhà văn… luôn là đề tài quan tâm, trao đổi giữa những đồng nghiệp thân thiết. Qua đó, điều dễ nhận thấy là mỗi người cầm bút dù trưởng thành từ trong kháng chiến hay mới tham gia sáng tác năm ba truyện ngắn cũng đều có sự dằn vặt, trăn trở trước hiện thực cuộc sống, trước niềm đam mê cống hiến vì một nền văn học và sự phục vụ có tính thời sự theo yêu cầu chính trị ở địa phương. Những bài viết minh họa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gương người tốt việc tốt trong các phong trào luôn được khuyến khích, chỉ đạo của những người quản lý văn hóa văn nghệ. Song song đó, những truyện ngắn – một thể văn xuôi hư cấu – luôn bị xét nét, kiểm duyệt gắt gao. Người ta cố tìm trong đó những chi tiết, cá tính nhân vật xem giống với việc gì ngoài đời, ông bà nào là nguyên mẫu rồi tha hồ suy diễn ý nghĩa của truyện, tư tưởng của tác giả… Rất nhiều lần lãnh đạo Hội và Ban biên tập tạp chí Văn nghệ Bến Tre bị phê bình, nhắc nhở vì đăng một truyện ngắn “có vấn đề”. Càng nghiêm trọng hơn khi tác giả của truyện ấy chính là cán bộ của Hội, là biên tập viên của tạp chí. Không ít lần Tạp chí bị ngừng xuất bản, ngắn thì năm, ba tháng, dài có khi cả năm. Trong các cuộc hội nghị, triển khai Nghị quyết, báo cáo viên thường dẫn chứng những tác phẩm ấy để minh họa cho sự lệch lạc trong tư tưởng văn nghệ sĩ.
Thật ra, hơn bốn mươi năm qua, ở Bến Tre chưa có một tác giả nào bị kỷ luật vì tác phẩm của mình nhưng dư luận như những đợt sóng ngầm cứ lan tỏa. Những bàn tán, xì xào, đồn thổi tác giả đó với tác phẩm kia có vấn đề thế này, thế nọ cứ len lỏi, âm ỉ từ cơ quan ra đến hàng quán (các quán cà phê, quán nhậu mà các văn nghệ sĩ thường hay lui tới), từ trong giới văn nghệ đến cán bộ các ban ngành, đoàn thể…
Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến người sáng tác.
Ở góc độ cá nhân, trong mỗi người sáng tác luôn có sự trăn trở, bất an. Các chú, các anh cầm bút từ trong cuộc chiến đã quen với cách nghĩ, cách viết phục vụ tuyên truyền trong từng chiến dịch đã ngỡ ngàng nhận ra điều đó không còn phù hợp trong xã hội mới với những biến động mang sắc thái rất khác. Đó là những suy tư về thế thái nhân tình, về những tiêu cực trong xã hội, về những vấn đề nảy sinh sau cuộc chiến quá mới mẻ và cũng quá phức tạp mà trước đây thật khó hình dung. Người sáng tác muốn những trang viết của mình phải khác, phải mới.
Bên cạnh đó, những cây viết được tập hợp từ sau ngày thống nhất đất nước bao gồm những người đã sáng tác trước 30-4-1975 ở đô thị miền Nam và những người viết trẻ xuất thân từ sinh viên, học sinh ngoài việc hòa nhập khá khó khăn trong xã hội mới còn phải cố gắng hòa hợp trong cách nghĩ, cách viết.
Phải thừa nhận, song song với sự thống nhất, đoàn tụ thì sự phân hóa, chia ly luôn diễn ra như hai mặt của một xã hội sau chiến tranh. Đó là tất yếu. Thế nhưng ở thời điểm đó những người quản lý tư tưởng, quản lý văn hóa văn nghệ khó mà chấp nhận, nhất là nó được thể hiện thông qua tác phẩm văn học. Nhưng chính ở khía cạnh này đa số những văn nghệ sĩ dù trưởng thành từ trong kháng chiến hay từng cầm bút trong chế độ cũ hoặc mới cầm bút sau chiến tranh có chung những cảm nhận, những trăn trở, ray rứt trước hiện trạng xã hội. Ngoài những trang viết phản ánh cuộc sống mới bằng cái nhìn lạc quan, tích cực theo yêu cầu của lãnh đạo; các tác giả còn dành thời gian, tâm huyết cho những tác phẩm mà mình ấp ủ, qua đó thể hiện phần nào tâm trạng của mình trước những vấn đề thuộc về thế sự. Nhưng không dễ chút nào. 
Không dễ, bởi để viết được một tác phẩm như vậy nhà văn phải vượt qua nhiều thứ, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro, tai nạn nghề nghiệp có thể bất ngờ ập tới. Nói vượt nhiều thứ nhưng chủ yếu là vượt qua được sự yếu đuối của chính mình.
Không dễ, bởi tác phẩm rốt cuộc cũng hoàn thành sau nhiều đêm nhà văn đánh vật với từng con chữ, nhưng khi gửi đến bàn biên tập có thể bị nghẹn lại. Nghẹn lại vì nhiều lý do. Ở đây xin không nói đến tác phẩm bị biên tập viên đánh giá là dở. Có khi người biên tập cảm nhận được tác phẩm đó hay nhưng khi in ra có thể bị lãnh đạo phê bình vì vấn đề đặt ra “quá hóc” hoặc “hơi nhạy cảm”. Cũng có khi biên tập viên chấp nhận nhưng tới Tổng biên tập thì bị ách lại. Không ít trường hợp Tổng biên tập ký duyệt cho in nhưng khi báo, tạp chí phát hành được vài hôm thì có lệnh của cấp trên Tổng biên tập phải đi giải trình. Dĩ nhiên sau đó ban biên tập mà chủ yếu là người trực tiếp biên tập tác phẩm ấy phải làm kiểm điểm, thừa nhận sơ suất do trình độ chính trị còn non yếu, sẽ cố gắng học tập, rèn luyện nâng cao tư tưởng, nhận thức. Dù vậy, áp lực cũng rất lớn. Riêng tác giả bị ảnh hưởng nặng nề bởi dư luận ngầm. Những ánh mắt e dè, thái độ ngại tiếp xúc của một số không ít đồng nghiệp “có lập trường chính trị” vững vàng; đồng nghiệp thân thiết và bạn đọc đồng cảm muốn chia sẻ cũng hết sức kín đáo, không muốn để lộ nhiều người biết; rồi tác phẩm sau này sẽ bị “soi” kỹ hơn, khó được in hơn… tất cả có vẻ vô hình, chỉ là trực cảm nhưng chúng như những khối đá càng lúc càng nặng trên vai người vác nó.
Không thể phủ nhận, những “đòn phép” đó có hiệu quả vô cùng. Biên tập viên càng dè dặt hơn, vận dụng “lập trường chính trị” rõ ràng hơn. Tăng cường đăng những tác phẩm tích cực, nhẹ nhàng, tươi mát, đèm đẹp, thậm chí “vô thưởng vô phạt”.
Đáng nói là ở chính người viết. Một số bỏ cuộc, chuyển nghề, tự an ủi bằng câu thơ của Viên Mai (Trung Quốc): “Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Số khác tự điều chỉnh ngòi bút, chiều theo thị hiếu dễ dãi của độc giả, viết truyện ngôn tình hoặc khai thác những câu chuyện ly kỳ mang tính giải trí là chính. Số này khá đông và ngày càng phát triển. Họ viết khá nhanh, tên tuổi xuất hiện thường xuyên trên sách báo. Không ít trong số này “sống được” bằng ngòi bút của mình.
Một số tác giả bám sát quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Số này luôn có thành tích cao, đạt nhiều giải thưởng ở các mặt phong trào từ địa phương đến Trung ương.
Một số rất ít vẫn tâm huyết với nghề, trọng chữ như trọng lời “lời nói đọi máu” (mỗi lời nói ra quý như một bát máu). Nhưng dường như có một nghịch lý, họ càng tâm huyết với nghề, càng trăn trở trước hiện tình đất nước, hiện thực xã hội bao nhiêu thì càng lúc họ càng thấy viết khó bấy nhiêu. Từ lúc nào nảy sinh trong họ thường trực hai dòng suy nghĩ phân cực, trì níu lẫn nhau. Một này bay bổng với nghệ thuật ngôn từ, từng con chữ như mang hồn vía của người viết. Một kia lúc nào cũng cân đo đong đếm, định tính, định lượng từng con chữ, mài dũa, vo tròn, cắt xén để “thuận người hợp ta”. Đôi lúc nhìn lại những trang viết của mình, giật mình nhận ra phần nhiều chỉ là “xác chữ”. Đã vậy, khi tác phẩm hoàn thành, con đường đến với bạn đọc cũng còn lắm nhiêu khê.
Nghiêm túc nhìn lại, nhận ra rằng mình không vượt qua được chính mình. Sự tự kiểm duyệt đủ để làm chai sạn cảm xúc, bào mòn nghệ thuật ngôn từ. Nhà văn thường trực có cảm giác bất lực trước từng con chữ.
Nêu lên vấn đề này người viết hoàn toàn không có ý trách cứ hay than vãn, chỉ là sự cảm nhận cá nhân trong tiến trình phát triển của văn học Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Bến Tre nói riêng trong bốn mươi lăm năm qua. Bởi suy cho cùng đó cũng là qui luật khách quan của mọi nền văn học.
Điều quan trọng nhất chính là ở tài năng.
Hy vọng thế hệ cầm bút trẻ sẽ vượt được chính mình để có những tác phẩm đỉnh cao.

Bến Tre, 15-8-2019
                                                                                            N.T