(Tham luận Bàn tròn Văn xuôi ĐBSCL)
NGUYÊN TÙNG
Lời đầu tiên cho phép tôi cảm ơn Hội Nhà
văn Việt Nam, Ban Liên lạc Nhà văn Đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức cuộc hội
thảo đầy ý nghĩa này để chúng tôi, những tác giả văn xuôi có dịp ngồi lại, nói
lên những suy nghĩ của mình về thực trạng văn học hôm nay, nhất là mảng văn
xuôi hư cấu ở một khu vực trẻ nhất trong tiến trình lịch sử của đất nước.
Có một điều cần khẳng định ngay rằng văn xuôi Đồng bằng
sông Cửu Long hôm nay vẫn là sự tiếp nối dòng văn xuôi yêu nước của thế hệ các
nhà văn trưởng thành trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Họ đã góp phần tạo dựng được diện mạo chững chạc
của nền văn chương Nam bộ hiện đại hòa vào dòng chảy của nền văn học cách mạng
Việt Nam. Và sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng những nhà văn này vẫn không ngừng tự hoàn thiện mình trong
cách nhìn về chiến tranh. Họ vẫn là lực lượng nòng cốt, là hạt nhân tập hợp và
dẫn dắt đội ngũ tác giả trẻ hình thành sau ngày giải phóng đến nay. Ở phạm vi
bài này tôi xin giới hạn suy nghĩ của mình về mảng văn xuôi hư cấu của các tác
giả xuất hiện sau 1975.
Dù có nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể phủ nhận
sau 30-4-1975 đến nay đội ngũ viết văn xuôi hư cấu ở Đồng bằng sông Cửu Long
ngày một đông hơn và những vấn đề được đề cập trong tác phẩm của họ cũng ngày
càng phong phú, phức tạp và đa dạng hơn. Nếu những năm đầu sau giải phóng ở mỗi
tỉnh chỉ thưa thớt một, hai tác giả viết được truyện ngắn; tỉnh nào xuất hiện
được ba, bốn cây bút viết truyện thì có quyền tự hào là lực lượng tỉnh mình
mạnh lắm; còn hiện nay theo tôi biết ở Hội Văn nghệ tỉnh nào cũng có trên chục
tác giả, dù trong số họ có người thường xuyên, có người thi thoảng đăng ở tạp
chí Văn nghệ tỉnh nhà hay ở các báo, tạp chí của thành phố Hồ Chí Minh và trung
ương. Chỉ riêng Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre số hội viên viết
truyện ngắn có khoảng 15 người, trẻ nhất
là ở độ tuổi hai mươi. Có thể khi bàn về chất lượng văn chương thì những
con số ấy chưa nói lên được điều gì nhưng qua đó cho thấy mảng văn xuôi khu vực
không hề bị đứt đoạn. Tình yêu văn chương và niềm đam mê sáng tác là có thật ở
một vùng đất mà khi nhắc đến thường chỉ gợi cho người ta nhớ ngay đến bài ca
vọng cổ hay “chiếc nôi của nghệ thuật cải lương”. Nhưng có một thực tế đáng
buồn là số lượng cây bút tâm huyết với văn xuôi hư cấu ngày một ít đi. Sau năm,
ba truyện ngắn xuất hiện được bạn đọc Văn nghệ và báo giới chú ý thì tên tuổi
họ được “củng cố” bằng những bài viết phản ánh thường xuyên trên báo của địa
phương và các tờ báo lớn ở thành phố. Một tỉ lệ rất thấp còn trụ lại với thể
loại truyện thì xem chừng càng lúc họ càng viết chật vật, vất vả hơn, hoặc là
xuất hiện đều đặn nhưng cứ lặp đi, lặp lại chính mình, trơn tuột, dễ dãi và rập
khuôn. Ngặt nỗi những cái gọi là “truyện” ấy cũng dễ dàng được người biên
tập tạp chí Văn nghệ cho đi vì nhiều lý
do: Đây là thể loại khó, khan hiếm nhưng là “xương sống”, “chủ lực” của tạp
chí; “Cần nâng đỡ, nuôi dưỡng một cây bút có triển vọng”, hoặc “Vấn đề được đề
cập tới sát sườn với cuộc sống, đầy tính nhân văn”; cũng có khi vì cả nể do tác
giả đã “nổi tiếng” v.v…Và còn một lý do ít được nói ra nhưng có thật là độ an
toàn cao. Người biên tập lẫn tác giả không canh cánh nỗi lo ông X, bà Y phản
ứng vì thấy bóng dáng mình trong truyện sau khi tạp chí phát hành. Dần dần
những điều ấy như có mãnh lực vô hình bám chặt vào suy nghĩ của người biên tập
và có khả năng ru ngủ người viết. Kết quả là ta tự bằng lòng với ta trong khi
độc giả ngày một quay lưng. Bởi họ không tìm
thấy điều gì mới mẻ, đem lại cho tâm hồn họ một chút dinh dưỡng để nhìn
cuộc đời thấu đáo hơn, sâu sắc hơn. Độc giả đến với văn học nói chung, truyện
ngắn hay tiểu thuyết nói riêng ngoài mục đích giải trí họ còn có nhu cầu mở
rộng thêm tầm nhìn về xã hội, về thế thái nhân tình, về triết lý cuộc sống
thông qua tâm thế và nghệ thuật của nhà văn. Và cũng vì lẽ này mà tác phẩm văn
học đích thực luôn kén độc giả.
Tôi không là người bi quan cho rằng độc giả ngày nay ít say
mê đọc truyện ngắn và ngán ngại đọc tiểu thuyết. Có không ít lời than phiền
rằng văn học hôm nay bị lép vế bởi sự phát triển của báo chí, phim ảnh - người
ta thích đọc chuyện vụ án, hình sự hơn là thích đọc văn chương, nhất là văn
xuôi hư cấu. Tôi nghĩ không phải vậy. Số người say mê văn chương vẫn còn có khi
còn nhiều hơn trước nữa nhưng nhu cầu thưởng thức của họ ở một tầm cao hơn, mới
hơn mà người viết chúng ta không đáp ứng kịp. Ta chưa tự đổi mới được ta. Tác
giả văn xuôi đồng bằng thường chú ý bề nổi mà bỏ quên bề sâu của cuộc sống -
cái mà độc giả đang cần và tác phẩm văn học cần có, nhất thiết phải có. Nếu
viết truyện chỉ chú trọng đến cốt truyện éo le gay cấn, phản ánh như thật cuộc
sống diễn ra hàng ngày thì khó lòng bắt người đọc phải say mê. Bởi vì ngày nay
với biên độ mở rộng của các thể tài báo chí nó làm cho người ta thỏa mãn hơn và
mức độ tin cậy cao hơn. Điều người đọc cần ở văn xuôi hư cấu là sức gợi của tác
phẩm thì người viết trẻ Đồng bằng sông Cửu Long chúng ta hôm nay đang thiếu.
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một đoạn trong phần mở đầu tiểu thuyết “Sự bất
tử” của Milan Kundera - một tiểu thuyết gia người Pháp gốc Sec - mà chính
nó đã cuốn hút tôi như một ma lực để đọc đến dòng chữ cuối cùng cuốn tiểu
thuyết. Xin được trích:
“Tôi nằm trên giường trong trạng thái mơ màng. Lúc sáu giờ
tôi bắt đầu thức giấc, giơ tay lấy cái đài bán dẫn nhỏ để đầu giường và bấm
nút. Bản tin buổi sáng đầu tiên vang lên, tôi chỉ kịp nghe những lời rời rạc
rồi lại thiếp đi, do đó câu đọc của phát thanh viên biến thành giấc mơ. Đó là
giấc mơ đẹp nhất, là khoảng thời gian tuyệt vời nhất trong ngày: nhờ đài phát
thanh tôi cảm giác được tình trạng quên lãng và tỉnh thức bất biến của mình,
cảm giác được sự đung đưa kỳ diệu nhất giữa thức và ngủ, bản thân cái đó đã đủ
để chúng ta không hối tiếc là đã được sinh ra trên đời. Tôi mơ chăng, hay thật
ra tôi đang xem một vở Ôpêra và thấy hai người hát rong mặc giáp trụ kị sĩ đang
hát về chuyện thời tiết sẽ thế nào? Nếu thế sao họ không hát về tình yêu? Nhưng
sau nghe rõ hơn tôi thấy đó là hai phát thanh viên và họ không phải đang hát mà
đang chọc giỡn nhau. “Ngày sẽ nắng gắt, oi bức, có giông”, - người thứ nhất
nói; người thứ hai bỡn cợt. “Nghiêm trọng vậy hả?”. Giọng thứ nhất đáp lại cũng
bỡn cợt như vậy: “Mais oui. Xin lỗi, anh Bécna. Nhưng đúng thế đấy. Đành
phải chịu vậy thôi”. Bécna cười to nói: “Đó là sự trừng phạt về tội lỗi của
chúng ta”. Giọng thứ nhất: “Anh Bécna, theo điều khoản nào mà tôi phải chịu tội
của anh?”. Đến đây Bécna cười to hơn, dường như muốn để cho tất cả các thính
giả hiểu đây là đang nói về thứ tội lỗi nào và tôi hiểu được anh ta: Mơ ước
thiêng liêng trong cuộc đời chúng ta là mong sao cho mọi người coi chúng ta là
những kẻ phạm tội vĩ đại! Mong sao tội lỗi của chúng ta giống như mưa giông,
bão táp, cuồng phong! Khi hiện nay người Pháp giương ô trên đầu, hãy để họ nhớ
lại tiếng cười hai nghĩa của Bécna và phát ghen với anh ta! Tôi bật sang sóng
của trạm phát bên cạnh, bởi vì tôi muốn thu hút thêm những hình ảnh thú vị hơn
cho cơn quên lãng đang đến gần. Ở trạm này một giọng nữ thông báo rằng ngày sẽ
nắng gắt, oi bức, có giông và tôi sung sướng là ở nước Pháp chúng ta có rất
nhiều trạm phát thanh và khắp nơi trong cùng một lúc đều cùng nói về một
điều...”(1)
Cũng là kể, là tả cái hiện thực đang diễn ra hàng ngày
tưởng như bình thường ấy nhưng nó có sức gợi đến mức phi thường. Câu chữ của
nhà văn vừa làm nhiệm vụ thể hiện, dẫn dắt câu chuyện vừa là chiếc chìa khóa
vạn năng được trao đến từng độc giả. Và ở đây còn liên quan đến nghệ thuật “mở
khóa” của người đọc. Họ là người đồng sáng tạo với nhà văn chớ không là người
thưởng thức thụ động nữa. Chính điều này mà văn học nói chung, văn xuôi hư cấu
nói riêng sẽ không có ngành nghệ thuật nào thay thế được.
Từ nhiều năm nay chất lượng văn xuôi hư cấu ở Đồng bằng
sông Cửu Long vẫn ở mức làng nhàng. Người đọc sẽ dễ dàng nhận ra tác phẩm của
chúng ta vừa thừa vừa thiếu, xét trên các yếu tố để có một tác phẩm hay. Theo
cảm nhận của tôi đó là:
- Thứ nhất: thừa kể lể, miêu tả mà thiếu sức gợi như đã nói
ở trên.
- Thứ hai: thừa ngô nghê mà thiếu vẻ tự nhiên trong cách
hành văn, sử dụng phương ngữ, thổ ngữ và nhất là khi miêu tả tính cách nhân vật
Nam Bộ. Có cảm giác là người viết chúng ta bị “đóng đinh” trong cách nghĩ: Đã
là người Đồng bằng sông Cửu Long thì lúc nào cũng phải nhậu, say "quắc
cần câu", nói năng bạt mạng, dở dở ương ương... Ở đây tôi xin mở ngoặc
để bày tỏ lòng cảm phục của mình đối với hai nhà văn Nguyễn Quang Sáng và Trang
Thế Hy. Ông Ba Hoành trong “Quán rượu người câm” của Nguyễn Quang Sáng;
Chị Châu, anh Hữu trong "Vết thương thứ mười ba"; Chị Ba Hường
và cả ông cán bộ không có tên mà lớp trẻ chúng tôi thường hay gọi là “Ông vậy
hả?” trong “Nợ nước mắt” của nhà văn Trang Thế Hy... là những nét độc
đáo trong tính cách của người đồng bằng Nam Bộ. Ở lớp chúng tôi sự phát hiện
như vậy đến nay vẫn còn là ẩn số.
- Thứ ba là thừa tả thực mà thiếu tưởng tượng. Truyện ngắn
của các tác giả Đồng bằng sông Cửu Long chúng ta dễ gây cho người đọc cảm giác:
“Đó là câu chuyện có thật”. "Nguyên liệu thô" còn đan bện quá nhiều
trong tác phẩm hư cấu. Chính điều này đã làm giảm sự hứng thú cho người đọc.
Khi thưởng thức một tác phẩm ký độc giả thường chuẩn bị sẵn cho mình niềm tin:
chuyện này hoàn toàn có thật, đã xảy ra rồi ở một địa danh cụ thể nào đó được
tác giả ghi chép lại bằng bút pháp văn học. Đối với truyện ngắn hay tiểu thuyết thì khác. Người ta chờ
đón chuyện bịa, tức sự tưởng tượng của tác giả xem có giống như cuộc đời mà
không phải ai cũng nhận ra, phải qua tài năng của nhà văn người ta mới thấy,
mới nhận thức được sâu sắc hơn. Cho nên trong tác phẩm hư cấu cả Đông lẫn Tây,
từ xưa chí nay có những chi tiết tưởng phi hiện thực nhưng độc giả tin là thật,
còn chúng ta đôi khi bê nguyên sự thật vào truyện mà khi đọc lại thấy nó giả,
khó thuyết phục.
Gần đây tôi có đọc truyện
ngắn "Chế tạo thanh âm" của Giả Bình Ao và "Thẩm
Viên" của Mạc Ngôn trên Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn, thấy sức tưởng tượng
của các nhà văn này thật dữ dội. Đọc xong buộc mình phải thốt lên “Bịa tài
quá!". Bịa bởi làm gì có chuyện ông
lão vác đơn đi kiện suốt mấy mươi năm vì một cái cây; làm gì có chuyện giữa ban
ngày ban mặt có một con người hoàn toàn tỉnh táo lại đòi tìm đến Thẩm Viên, một
nơi chưa hề có ở Trung Quốc cũng như trên thế giới này. Ấy vậy mà nó có sức
thuyết phục mạnh mẽ, khơi gợi cho người đọc biết bao điều.
Nêu lên những nhận định mang tính cá nhân trên không có
nghĩa chúng tôi nhìn văn học đồng bằng hôm nay quá bi quan, hay sổ toẹt mọi
cống hiến của các tác giả cho nền văn xuôi khu vực. Nhưng những gì chúng ta đạt
được trong thời gian qua theo tôi là còn khiêm tốn, chưa thể thỏa mãn. Nghiêm
khắc nhận ra những khiếm khuyết của mình để tự phấn đấu vì Văn học Đồng bằng
sông Cửu Long nói chung, Văn xuôi hư cấu nói riêng là trách nhiệm của mỗi người
cầm bút chúng ta. Trước trang giấy trắng đầy thách thức, tự vượt chính mình quả
thật khó khăn. Nhưng với vùng đất phong phú về chất liệu văn học và với những
con người tâm huyết với văn chương, hy vọng sẽ có những tài năng phát tiết tạo
một bước ngoặt mới cho Văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long.
8-2004
NT
_________
(1) Bản dịch của Ngân Xuyên - VHNN số 1-1996, trang 9.