Bút ký của NGUYÊN TÙNG
Có thể sẽ có một câu chuyện cổ tích:
Ngày xưa, xưa lắm khi mặt biển vưa nhô lên ba hòn đảo nhỏ nằm cặp kè nhau mà sau này người ta gọi là Minh, Bảo và An Hóa, có một chấm đất nhỏ nổi lên từ từ sáp nhập vào cù lao Minh trên đó mọc một cây Cui. Cứ nước lớn thì gò đất mất đi, chỉ có ngọn Cui nằm chơ vơ trên mặt biển, để nước ròng gò đất lại bày ra. Năm này qua năm khác gò đất cao lên và lan rộng, Cui cũng mọc thành rừng đẩy lùi mặt biển ngày càng xa. Cây Cui đầu tiên bây giờ đã sum suê cành lá. Từ trong thân Cui hiện ra một cô gái thật đẹp. Mỗi chiều cô gái thường hay dạo chơi dọc theo bãi biển để đón nước triều lên.
Từ khi gò đất nhô cao hình thành một vùng đất khô ráo có thể trồng tỉa được thì con người cũng đặt chân đến. Họ khai phá rừng đốn củi, đước, đưng, sậy... để cấy lúa. Trong số người đó có một anh nông dân còn rất trẻ tình cờ bắt gặp cô gái. Và họ đã phải lòng nhau. Theo sự chỉ dẫn của chàng trai cô gái đã dần quen với công việc đồng áng. Cô trở thành người thợ cấy xuất sắc. Một hôm trong lúc đang cấy trên cánh đồng rộng mênh mông cô gái cũng cất lên giọng hò làm ngây ngất lòng người. Giọng hò cao vút, óng mượt nghe như phảng phất trong ấy tiếng gió lùa và hình ảnh những gợn sóng lăn tăn. Phút chốc mọi người quên đi sự mệt nhọc.
Cứ ngỡ anh nông dân mà cô gái phải lòng là người hạnh phúc nhất. Nhưng không. Tiếng đồn về thanh sắc của cô gái vang xa đến tai tên quan phủ. Hắn đã dùng tiền tài, vũ lực bắt cô gái về làm nàng hầu và hò cho hắn nghe. Hắn tổ chức những cuộc lễ linh đình bắt cô gái hò một mặt để khoe khoang, vênh váo, mặt khác để móc túi người dân. Cô gái đau khổ tột cùng. Tiếng hò không còn vui tươi, hồn nhiên nữa mà ẩn chứa những lời oán than thân phận, tiếc nuối mối tình đẹp đẽ đã mất. Như chim bị nhốt trong lồng, cô gái chỉ biết nhắn gởi trong câu hò với chàng trai là cô vẫn một lòng chung thủy.
*
* *
Câu chuyện chợt đến trong đêm đầu tiên tôi về Minh Đức sau khi nghe những bà má tuổi ngoài bảy mươi tổ chức một cuộc hò. Gần nửa ngày trời ngồi trên chiếc xe ngựa lọc cà lọc cọc có lúc muốn hất tung người xuống ruộng, những khớp xương đau dần vì những cú xóc vậy mà tôi không tài nào ngủ được. Những giọng hò điệu lý cứ vương như còn lẩn quẩn đâu trong tiếng gió. Ngồi bật dậy, tôi rón rén tìm chốt cửa nhẹ nhàng mở ra như một tên ăn trộm để giữ yên giấc ngủ của người trong nhà. Cả người tôi bỗng chìm ngập trong ánh trăng. Trăng tháng chạp, con trăng cuối cùng của một năm đang qua đây. A! Vậy là một cái cớ hết sức chính đáng nữa để tôi không được quyền ngủ trong đêm nay. Tự nhiên lúc này tôi lại nhớ đến lời ba tôi kể về ông tôi. Ông tôi ngày xưa vốn là một nhà nho nghèo. Ông có một cái thú duy nhất là ngắm trăng vào thời kỳ sung mãn nhất. Cứ mỗi tháng vào đêm mười bốn âm lịch là hầu như ông không ngủ. Trăng đêm ấy có một sức quyến rũ lạ kỳ. Mỗi tuần trăng mỗi vẻ, không giống bất cứ một tuần trăng nào. Ông ngắm trăng vừa để thưởng thức, cũng vừa để dự đoán trước thời tiết cho tháng tới mà sắp xếp công việc mùa màng. Không phải hôm nay tôi cố bắt chước theo ông ngày xưa nhưng tôi chợt nhớ lời ông: “Có những cái qua đi sẽ không bao giờ tìm lại được nếu ta hững hờ với nó”. Phải rồi, tôi sẽ không được phép hững hờ ánh trăng đêm nay ở giữa vùng hò lý Minh Đức - một trong những vùng nôi của dân ca Nam Bộ. Trăng tắm khắp người tôi một vùng ánh sáng ngây ngất mà luyến lưu, mời gọi. Bóng những tàu lá dừa in xuống thềm nhà đong đưa, nơi mà lúc sáng bà Tám Hò đã ngồi róc chổi. Nhà bên kia, cách hai bờ dừa có tiếng khóc của đứa trẻ, và một giọng hát ru con cất lên, vừa để cho đứa bé nín nhưng trong đêm vắng tôi đứng bên này vẫn nghe rõ mồn một:
Ầu ơ... Tiếng đồn em bậu hò hay
Bữa nay anh gặp mặt nắm tay giao hò...
Tôi đứng ngây người. Lẽ nào trong đó có ý muốn nhắn gởi? Tôi cũng kịp nhận ra những câu hò ngày xưa không phải chỉ còn tiềm tàng trong trí nhớ của những bà má mà nó vẫn còn sức sống mạnh mẽ trong mỗi người dân Minh Đức, hòa quyện, biến cả vào trong tiếng hát ru con. Minh Đức, một xã hẻo lánh của huyện Mỏ Cày trong kháng chiến chống Mỹ là xã anh hùng về phong trào nhân dân du kích chiến tranh. Cái nôi hò lý - một xã anh hùng. Hai điều ấy đủ nói lên tinh thần, trí tuệ và sức mạnh của người dân Minh Đức. Rất dũng cảm nhưng cũng rất trữ tình. Hai tính chất tưởng như mâu thuẫn ấy lại là một sự kết hợp nhuần nhuyễn, bổ sung nhau tạo nên cái cốt cách của người dân Minh Đức. Bà Bảy Chắc, một trong những nghệ nhân của làng hò lý này nay đã trên tám mươi tuổi, là mẹ của ba liệt sĩ. Lúc sáng nghe chúng tôi đến bà đã chống gậy qua cùng bà Tám, bà Năm, bà Tư gầy một cuộc hò. Hò ở Minh Đức có nhiều loại: hò chèo thuyền, hò mái đoản, hò mái trường, hò bản đờn, hò đối đáp... và mang tính tập thể. Một người đơn độc không thể hò được. Thường một đội hò phải có ít nhất ba người. Người có giọng thanh nhất sẽ là người hò chính, còn gọi là cái Kể, và những người rước hơi còn gọi là con Xô. Mất phần rước hơi đi câu hò sẽ trở nên nhạt nhẽo. Nhiệm vụ quan trọng của dàn rước hơi là để cái Kể nghỉ lấy hơi hò tiếp và tạo nên chất sinh động của cuộc hò. Bởi thế những buổi hò cấy trên đồng ruộng ngày xưa đã tạo nên một không khí thật sôi động, giúp người nông dân quên đi sự mệt nhọc trong công việc. Nắm được yếu tố này bọn chủ ruộng ngày xưa đã lợi dụng nó để bóc lột sức lao động của người nông dân nghèo. Bà Tám Hò, bà má có một thời nổi tiếng hò hay kể rằng ngày xưa công cấy một ngày chỉ có hai cắc nhưng chủ ruộng sẵn sàng trả cho bà một đồng hai về công hò. Bởi vì khi bà cất giọng hò lên thì không khí sinh động hẳn. Công cấy phấn khởi, cấy nhanh hơn và sẽ thu hút được nhiều người bên ngoài tới. Số người vì mê hò mới tới này sẵn sàng tình nguyện nhảy xuống ruộng bỏ mạ hoặc cấy không công, chỉ để thưởng thức giọng hò thanh tao của “cô Tám”. Đến chiều tối công cấy cũng chưa chịu lên bờ vì cứ muốn được nghe hò nữa. Bọn chủ ruộng làm ngơ để mặc câu hò tiếng hát vang dậy khắp đồng. Thật ra chúng rất khoái trá vì chỉ bỏ ra một đồng hai nhưng thu lại gấp trăm lần. Chúng sẽ không trả tiền cho số người không mướn mà tới cấy hay bỏ mạ kia, lại cũng không trả công cho số giờ cấy vơi ra.
Dõi theo những câu hò thời kỳ này hầu hết là nói lên nỗi khổ của người phụ nữ, lời oán than thân phận, tình yêu trắc trở. Vì hoàn cảnh nghèo túng, cô gái phải một thân một mình đi cấy mướn làm thuê bên làng khác, một tiếng chim kêu, một con cá quẫy cũng làm lòng cô lo sợ:
Tôi tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu tôi cũng sợ, con cá vẫy vùng tôi cũng ghê
Nhưng rồi tính ăn nết ở của cô gái đã làm anh nông dân phải lòng, anh ngỏ ý “muốn theo mình lo tu bỉ mần ăn”. Cô gái dù có yêu anh cũng không dám phá bỏ sự ràng buộc khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến. Cô phải giữ sự trinh tiết đối với người chồng mà cô không hề yêu mến, chỉ vì sự ép uổng:
Tôi ngậm giọt nước mắt thầm xin tỏ nỗi niềm riêng anh bi sầu thê thảm.
Ngậm mối hờn có khác nào như địa hãm sơn băng.
Nào hay đâu anh mang mối hồ cầm,
Mà bỗng sang chơi nơi thuyền có chủ, mà anh phải chịu khó khăn một mình.
Nói thì nói vậy chứ lòng cô gái vô cùng đau khổ. Có lúc cô muốn tìm lối thoát bằng cách “nương theo cửa tiệt” (cửa Phật).
Hiểu được lòng người yêu, anh con trai bày tỏ hoàn cảnh của mình:
Tôi muốn lên chốn non tiên kiếm chùa chiền cho tấm thân thong thả.
Nhưng vì cha mẹ già nên bất khả viễn du.
Phật tại gia còn ở lại tu,
Thôi chờ khi nào mẹ cha về nơi huê kiểng thì tôi với bạn sẽ nghe một tiếng trống công phu trong chùa.
Khi hò lại những câu này bà Tám kể cho tôi nghe về cách chơi hò của bọn địa chủ, cường hào ngày xưa. Phó Hoài và Phủ Kiểng là hai tay có thế lực lúc bấy giờ đứng ra tổ chức ngày hội hò Đu. Gọi là hội hò nhưng thật ra là một sòng bạc trá hình. Ở giữa sân rộng treo một cái đu lớn có tám cánh. Ai muốn thi hò thì lên ngồi trên cánh đu ấy. Một bên nữ, một bên nam hò đối đáp nhau. Ở cuộc chơi này thường là loại “hò mép”, tức là ứng khẩu thành câu hò. Một bên gài thì một bên phải gỡ, bên này đố thì bên kia lựa lời mà giải ra. Dưới sân xung quanh bày biện rượu thịt ê hề để các ngài “có máu mặt” vừa nhấm nháp vừa thưởng thức lời hò. Lại có mấy tay “thư ký” ghi chép từng câu của mỗi bên để phân định thắng thua. Giống như một cuộc đá gà, những tay nhà giàu bắt phe và cuộc nhau bằng tiền. Sau đó thường xảy ra những trận ấu đả đến đổ máu giữa những tay “đánh cá”, vì cãi nhau những câu hò cao, thấp của hai phe.
Vào những năm 1959 - 1960 trở về sau khi Mỹ ngụy ra sức đàn áp phong trào cách mạng và cũng những năm này phong trào cách mạng của nhân dân ta bùng lên mạnh mẽ thì hò ở Minh Đức cũng chuyển sang nội dung nói về thời sự. Những câu hò trong thời kỳ này mang nội dung khơi dậy lòng căm thù giặc, động viên, cổ vũ quần chúng đấu tranh. Các má đã hò lại cho tôi nghe những câu ngày ấy:
Rút kinh nghiệm học cùng tập thể,
Bước lên đường khó dễ đừng than.
Quân thù dù có nghinh ngang
Huơ cây đánh đập mình cũng vững trí bền gan diệt thù.
Bà Bảy Chắc kể rằng vào những năm 64 - 65 khi đến Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú) chứng kiến cảnh bom Mỹ giết chết 19 người trong một hầm, trong đó có hai phụ nữ mang thai, thì tối lại nhân buổi lễ truy điệu các má đã hò:
Mười chín người chết trong lửa đỏ
Chị em chúng ta nước mắt dầm dề
Thù Mỹ Ngô uất hận tràn trề
Các bạn ơi ráng nắm tay nhau siết chặt, một lời thề cũng đừng quên.
Buổi lễ từ sự đau thương đã hừng hực không khí căm thù.
*
* *
Có thể ngồi nghe các má hò liên tiếp ba ngày liền vẫn chưa hết những câu hò. Vậy mà các má nói rằng đã quên đi nhiều rồi. Cuộc sống hàng ngày còn quá khó khăn, tuổi đời càng chồng chất thì việc quên ấy là lẽ tất nhiên. Nhưng cái còn lại cũng đã rất quí. Chỉ sợ rằng một ngày không xa nữa những nghệ nhân này không còn khi chúng ta chưa kịp ghi lại hết những câu hò, điệu lý các bà còn nhớ được.
Từ ánh trăng giữa vùng hò lý đêm nay gợi tôi nhớ câu: “Có những cái qua đi sẽ không bao giờ tìm lại được”. Mong rằng câu ấy sẽ không còn đúng ở nơi làng dân ca Minh Đức này.