Thứ Ba, 28 tháng 1, 2020

BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT - THÀNH TRÌ BẢO VỆ NỀN ĐỘC LẬP DÂN TỘC

  (Góc nhìn của nhà văn trong tác phẩm văn học)

* Tham luận Hội thảo Quốc tế về Việt Nam Học và Đài Loan Học (23&24-11-2019)


NGUYÊN TÙNG 


Ngày nay, nhân loại sống trong “thế giới phẳng” thì hiện tượng giao thoa, tiếp biến văn hóa luôn diễn ra nhanh chóng và thường xuyên. Vì vậy ta dễ nhận ra những điểm chung giữa các dân tộc. Thế nhưng, mỗi dân tộc đều có riêng bản sắc văn hóa. Đó chính là những nét riêng biệt, đặc thù mà trong quá trình sàng lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác, cái còn tồn tại gồm cả vật thể và phi vật thể do bàn tay, khối óc con người tạo nên được lưu giữ trong cộng đồng dân tộc. Cho nên, trong hàng trăm định nghĩa về văn hóa tôi vẫn có ấn tượng nhất với khái niệm: “Văn hóa là những gì do con người tạo ra và còn lại sau khi đã mất hết”.
Một trong rất nhiều hình thức lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc quan trọng và đặc biệt nhất là văn học. Bởi tác phẩm văn học vừa là một thực thể văn hóa vừa là một hình thức lưu giữ văn hóa. Nhà văn vừa là người tạo ra sản phẩm văn hóa mới vừa là người bảo tồn và truyền bá bản sắc văn hóa dân tộc. Trong tác phẩm văn học của mình, nhất là các thể loại văn xuôi nghệ thuật, nhà văn thường vận dụng rất nhiều vốn văn hóa của dân tộc từ ngôn ngữ, lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo, kiến trúc đến phong tục, tập quán, trang phục, ẩm thực…
Nhà văn Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn sống trong sự kiềm tỏa hoặc sự đe dọa của ngoại bang. Thời gian sống trong hòa bình, độc lập, tự chủ ngắn hơn thời gian phải sống dưới ách thống trị của ngoại xâm. Kẻ xâm lược luôn muốn đồng hóa bằng chính sách cai trị hà khắc, áp đặt hay khuyến dụ, mua chuộc hòng biến dân Việt trở thành kẻ lai căng, mất gốc. Dù dưới hình thức nào thì mục tiêu vẫn là dùng văn hóa kẻ thống trị triệt tiêu văn hóa người bản địa. Nhưng họ đều thất bại. Bản sắc văn hóa Việt vẫn được duy trì, gìn giữ, kết tinh thành tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Bởi trong từng người Việt Nam đều ý thức rằng văn hóa Việt còn thì dân tộc Việt còn, dân tộc Việt còn thì nước Việt còn.
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
….
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
                                                       (Hịch xuất quân của Hoàng đế Quang Trung)
Nói một cách khác, bản sắc văn hóa Việt chính là thành trì bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Và đây cũng là tư tưởng xuyên suốt qua các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của các nhà văn Việt Nam, nhất là trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc ở thế kỷ XX.
Do sống trong xã hội đầy áp bức, bất công của chế độ thực dân nửa phong kiến, con người luôn phải đối mặt với cường quyền nên tự do luôn là niềm khát vọng. Khát vọng tự do ẩn tàng trong từng nét sinh hoạt, từng thái độ, tình cảm của mỗi người dù ở tầng lớp nào. Nó biểu hiện bằng tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp đến mức tinh tế. Uống trà, ngâm thơ, thưởng trăng, cho chữ… được nâng thành nghệ thuật, là những nét văn hóa độc đáo được ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân khắc họa trong Vang bóng một thời.
Với 54 tộc người cùng chung sống trên đất nước Việt Nam – còn được gọi là đồng bào – dù ở miền núi hay đồng bằng thì tình yêu quê hương, đất nước cũng nồng nàn, cũng mãnh liệt như nhau. Từng dòng sông, con suối; từng cánh rừng, mảnh ruộng cũng đượm hồn quê. Những phong tục, tập quán, nét sinh hoạt cộng đồng từ đời trước truyền đến đời sau… Tất cả đã là máu thịt, là hồn cốt của mỗi con người. Một khi chúng bị xâm hại bằng bất cứ sức mạnh ngoại lai nào thì tình yêu Tổ quốc - chính cái căn cốt đó trỗi dậy hơn bao giờ hết trong mỗi con người không phân biệt trẻ già, trai gái, nông dân hay trí thức, tộc người đa số hay thiểu số… đều không ngại hy sinh, đứng lên chống giặc ngoại xâm để bảo vệ cái “thành trì” văn hóa đó. Đó là Đinh Núp trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc); cụ Mết, Tnú trong Rừng Xà nu (Nguyễn Trung Thành – một bút danh khác của nhà văn Nguyên Ngọc); má Bảy, Út Sâm trong Gia đình má Bảy (Phan Tứ); những Lữ, Kinh, Khuê, Nhẫn, Lượng trong Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu); những Lượm, Mừng, Quỳnh sơn ca… trong Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán)…
Tính chất anh hùng, bất khuất của những nhân vật trong các tác phẩm vừa kể trên là thể hiện mẫu số chung của dân tộc Việt. Có thể nói tính chất ấy là mặt thể hiện của tình yêu hòa bình, lòng nhân ái cao cả (trong một hoàn cảnh cụ thể: đất nước gặp họa ngoại xâm) đã nâng lên thành tư tưởng – tư tưởng nhân nghĩa:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
                              (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Hay nói một cách mộc mạc hơn:
“Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”
                            (Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Chính lẽ ghét thương rạch ròi đó mà con người dù sống trong hoàn cảnh đất nước loạn ly vẫn giữ được chất thủy chung, khí khái, trọng nhân nghĩa. Họ sống hài hòa cùng thiên nhiên, biết cách chinh phục khi thiên nhiên khắc nghiệt. Chinh phục là để sinh tồn và hòa hợp. Chất hào khí thời khai hoang, mở cõi vẫn còn hằn sâu trong tính cách người dân. Trọng nghĩa, khinh tài. Hy sinh thầm lặng vì nghĩa cả. Giúp người không cần báo đáp… Những nét tính cách của người dân Việt ấy được khắc họa thành tính cách nhân vật trong các tác phẩm của nhiều nhà văn như Phi Vân (Đồng quê), như Bình Nguyên Lộc (Rừng mắm), như Sơn Nam (Hương rừng Cà Mau), như Trang Thế Hy (Nợ nước mắt, Vết thương thứ mười ba…), như Đoàn Giỏi (Đất rừng phương Nam),...
Tuy được các nhà văn vận dụng với mức độ đậm nhạt trong từng tác phẩm nhưng chung quy vẫn là sự khẳng định, tự hào bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chính từ đó đã hun đúc thành sức mạnh, thành niềm tin – vũ khí tinh thần – chống lại sự xâm lược của nước khác, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Nhưng ý thức bảo vệ mạnh mẽ không có nghĩa là đóng kín cửa, tự cô lập mình với thế giới. Với phương châm “hòa nhập chứ không hòa tan” dân tộc Việt luôn trân trọng tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa thế giới để văn hóa Việt ngày càng phong phú, phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại.
Trên tinh thần đó, ở lĩnh vực văn học, bạn đọc Việt Nam đã được tiếp cận với văn chương Đài Loan từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Những tác phẩm của Quỳnh Dao như Bạch Vân Thiên, Song ngoại, Mùa thu lá bay, Dòng sông ly biệt… đã làm say mê nhiều thế hệ độc giả, nhất là độc giả nữ ở Miền Nam Việt Nam. Dù hai nền văn hóa khác nhau nhưng có nhiều điểm tương đồng. Người đọc Việt Nam bắt gặp và đồng cảm với tấm lòng nhân ái, bao dung, cam chịu thiệt thòi về mình để người thân yêu được hạnh phúc của những nhân vật nữ trong các tác phẩm của nhà văn này.
Những năm gần đây bạn đọc Việt Nam cũng biết đến truyện ngắn và ký của nhà văn Tam Mao, truyện cực ngắn của các nhà văn: Ngô Đạm Như, Kỷ Đại Vĩ, Trương Đức Ninh… nhất là tập truyện ngắn Giấc mộng xuân trong ngõ Hồ Lô của “ngọn hải đăng trong văn học Đài Loan” Diệp Thạch Đào. Dù vậy, theo tôi vẫn còn rất khiêm tốn.
Trên tinh thần hợp tác quốc tế và phát triển bền vững, hy vọng trong thời gian tới nhà văn cũng như bạn đọc Việt Nam và Đài Loan sẽ được thưởng thức nhiều hơn tác phẩm của nhau để cùng khám phá và trân trọng bản sắc hai nền văn hóa của hai dân tộc Việt Nam – Đài Loan.

Đài Loan, ngày 23 tháng 11 năm 2019