Truyện ký của NGUYÊN TÙNG
Tôi đứng trước ngôi nhà lá lụp xụp được cất ở một góc của
nền xi măng trước đây là nền của ngôi nhà tường rất lớn. Ngôi nhà ấy thời Pháp
thuộc bị phá hoại khi bọn thực dân định chiếm cứ đóng quân. Người đàn bà đón tôi
đã luống tuổi, mập mạp nhưng dáng vẻ còn nhanh nhẹn, với đôi mắt thật sáng nổi
bật trên gương mặt phúc hậu của một bà mẹ. Nhìn thoáng qua, chị cũng như hàng
ngàn bà mẹ ở nông thôn đều biểu hiện những đặc tính: tất bật trong công việc,
đảm đang và thương yêu chồng con hết mực. Chính những nhận xét đầu tiên ấy làm
tôi ngạc nhiên khi biết hơn hai mươi năm trước đây chị là cô giáo Hồ Thị Phước,
một cơ sở binh vận đắc lực của ta ở xã Hiệp Hưng. Nghề giáo là một môi trường
để chị hoạt động binh vận. Đến khi liên lạc với cơ sở quá khó khăn, chị nghỉ
dạy học và chồng chị – thầy giáo Thọ – chính là tai mắt giúp cho chị nắm được
tình hình, sinh hoạt của địch. Cuộc đời hoạt động của chị đã móc nối được biết
bao người quay về với cách mạng. Có điều thú vị là chị đã móc nối được thầy học
cũ của mình trong những ngày chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là bác Quách
Chí Đông, người trực tiếp đưa mật thư của Tỉnh ủy đến tận tay đại tá Phạm Chí
Kim, tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa lúc bấy giờ.
Chị kể vào khoảng cuối tháng ba năm 1975 chị được lệnh
thoát ly ra vùng giải phóng để tham gia xây dựng phương án giải phóng thị xã.
Lúc ấy nhà chị ở sát bót chợ. Nhưng dù vậy, lần này chị không đắn đo suy tính
như trước. Đã hai lần rồi chị được tổ chức gọi ra vùng giải phóng để kết nạp Đảng
nhưng chị không đi. Cái lý do duy nhất chị nói với tôi là chị sợ tụi chiêu hồi.
Điều ấy là sự thiệt thòi đối với chị nhưng chị không lấy làm tiếc. Người làm
công tác binh vận là phải nhập thân lăn lộn giữa lòng địch cho nên mọi sự đi
lại, quan hệ làm sao cho địch không nghi ngờ là hết sức quan trọng. Chị nghĩ
rằng bản thân chị chưa phải đảng viên càng thuận lợi cho việc giấu mọi tung
tích. Người ngoài vùng giải phóng càng ít biết chị càng tốt. Gần đây trong làng
đã có một vài người vì không chịu đựng được gian khổ, bị mua chuộc bởi miệng
lưỡi của bọn tâm lý chiến đã ra chiêu hồi và làm chỉ điểm cho giặc. Mọi hành
động của chị bây giờ phải hết sức cẩn thận. Sau nhiều lần tiếp xúc chị hé mở
cho tôi biết một lý do nữa mà có lẽ khi thật sự xem tôi là bạn thân chị mới
nói. Tôi hiểu trong cuộc sống có những điều rất thật ở một con người nhưng
không phải lúc nào nói ra thì mọi người cũng đều tin đó là sự thật, mà có khi
chính điều đó sẽ làm cho người ta nghĩ mình là con người giả dối. Chị nói lúc
ấy chị cảm thấy mình chưa thật xứng đáng. Công tác của chị chưa đem lại thành
tích nào đáng kể, chỉ là sự dò la tìm hiểu địch tình, xây dựng cảm tình viên
đối với gia đình binh sĩ, có khi chính là sĩ quan ngụy rồi báo cáo về trên. Chị
đã lập xong bản lý lịch của từng tên lính ngụy ở các đồn bót trong xã với mức
độ thật chính xác và phát hiện được một tên tình báo CIA nguy hiểm. Tuy vậy chị
cảm thấy thành tích đó còn nhỏ nhoi chưa thể làm quà dâng Đảng trong bước ngoặt
lịch sử của đời mình. Vào Đảng, một chuẩn mực cao cả khẳng định tinh thần, đức
độ và năng lực của người làm cách mạng. Đó là điều chị hằng ao ước và luôn phấn
đấu. Chưa phải là đảng viên nhưng lúc nào chị cũng nghĩ mình là người của Đảng.
Điều tâm niệm của chị bây giờ là rèn luyện cho mình có một ý chí kiên cường,
một tinh thần đấu tranh không mệt mỏi của người cộng sản, không hề lung lạc sa
ngã trước muôn ngàn cám dỗ, âm mưu thâm độc của kẻ thù. Nếu không may bị địch
bắt, điều đó có thể xảy ra đối với người làm công tác binh vận như chị, thì làm
sao giữ được phẩm chất của người cộng sản, không hề khuất phục trước những đòn
tra tấn dã man. Chị nói chị không sợ chết. Khi xác định được con đường mình đã
đi thì cái chết không còn là nỗi khiếp sợ nữa, chỉ sợ mình không giữ được khí
tiết của người cách mạng. Bởi vậy chị càng đau đớn và căm giận khi biết có một
số người đã thật sự đứng vào đội ngũ của Đảng mà vì một chút riêng tư đã sa
ngã, cam tâm làm tay sai cho giặc. Khi biết được tổ chức lệnh chị thoát ly lần
nầy là để tham gia xây dựng phương án giải phóng thị xã hòa chung trong dòng
thác giải phóng toàn miền Nam
chị mừng lắm. Đây là sự thử thách lớn. Chị hy vọng ngày chị vào Đảng là ngày
toàn miền Nam
được giải phóng, trong đó có một phần chiến công của chị. Đó là món quà xứng
đáng để chị dâng lên Đảng.
Chị giao nhiệm vụ lại cho người con gái lớn. Cô gái lúc ấy
ở tuổi mười chín, lại đẹp nữa, là quả táo thật ngon trước con mắt háu đói của
bọn sĩ quan trong đồn. Nhà chị trở thành điểm hội tụ của chúng. Trong số này có
một tay thiếu úy mê mệt trước nhan sắc của cô. Trong câu chuyện hằng ngày cô
nắm được tình hình rồi viết báo cáo gởi ra vùng giải phóng cho chị. Hầu như chị
nhận được báo cáo đều đặn hằng ngày.
Người lệnh chị Phước thoát ly và chỉ đạo chị là anh Ba
Long. Năm đó anh đã năm mươi tám tuổi nhưng dáng dấp còn rất khỏe mạnh, người
cao lớn, nước da trắng. Anh là Trung tá, Phó an ninh Quân khu Tám được đặc phái
về công tác ở Bến Tre. Biết chị lúc trước học ở thị xã quen biết nhiều người
trí thức, sĩ quan trong quân đội địch, anh Long giao chị tìm một người tin cẩn
để gây cơ sở. Vì tính chất quan trọng của công việc nên điều kiện bắt buộc đối
với cơ sở nầy là người trí thức, có tinh thần yêu nước và có uy tín với cấp
lãnh đạo chính quyền ngụy ở Bến Tre. Chị nghĩ ngay đến thầy Quách Chí Đông. Dù
thời gian học thầy quá ngắn ngủi, chỉ có ba năm ở bậc tiểu học và qua lâu rồi
nhưng trong lòng chị còn giữ mãi những kỷ niệm đẹp về hành động và đức độ của
thầy. Trong kháng chiến chín năm thầy có làm liên lạc cho cách mạng, nhà thầy
trọ cũng chính là nơi hội họp và làm việc của tổ chức. Tính thầy cương trực,
khẳng khái luôn bảo vệ lẽ công bằng, ghét thói ỷ quyền, hống hách. Chị giới
thiệu những điều hiểu biết về thầy cho anh Ba Long nghe. Anh trầm ngâm suy nghĩ
một chút rồi hỏi chị:
- Những điều đó có thể cho ông Đông là người tốt nhưng chị
còn cơ sở nào để tin là ông sẽ nhận lời trong việc này? Thời chống Pháp qua lâu
rồi, nay ông đã già biết có dám nhận một công tác có thể nguy hiểm đến tính
mạng mình không?
- Tôi tin là ông sẽ nhận. Một người có tinh thần yêu nước
thì sẽ sẵn sàng làm một việc gì có ích cho nước, cho dân. Với ông Đông còn một
điều này nữa tôi có thể vững tin. Ông già rồi nhưng người thân không còn ai. Vợ
con ông chết lâu rồi, hiện nay ông sống với người vợ sau không có con cái nếu
không may thất bại thì ở ông điều này có thuận lợi hơn.
Anh Ba Long gật đầu.
Sáng hôm sau chị lên thị xã tìm đến nhà ông Đông. Thầy trò
lâu ngày gặp nhau mừng quá, thầy hỏi thăm đủ thứ chuyện. Dù kính trọng và tin
tưởng ở thầy nhưng chị vẫn thấy lo. Phải dò xem thái độ thầy ra sao rồi mới liệu
đặt vấn đề, chị hỏi ông Đông:
- Tình hình trên này lúc này ra sao, thầy?
- Gần đây mấy ổng thường hay pháo kích vô nên tụi
nó lúc này găng dữ lắm. Cứ vài đêm là làm ráp. Người đi đường không mang
giấy tờ thì nó bắt.
Câu nói làm chị thật vui như trút được nửa gánh nặng. Thầy
vẫn như xưa, gọi những người cách mạng là “mấy ổng” và ngụy là “tụi nó”. Chị
Phước hỏi tiếp:
- Thầy có sợ không?
Ông Đông nhìn chị với cái nhìn trìu mến của một người cha.
- Chết thì thầy không sợ. Thầy già rồi đằng nào cũng chết,
thầy chỉ buồn là thầy chưa làm được việc gì có lợi cho nước cho dân mà thôi.
Rồi thầy kể cho chị nghe chuyện hoạt động cách mạng hồi
kháng chiến chống Pháp của thầy. Để thầy kể xong chị mới nói:
- Nếu bây giờ mấy ảnh muốn thầy hoạt động trở lại thầy nhận
không? Con biết mấy ảnh ở trỏng định cho người liên lạc với thầy để hỏi
ý kiến…
Chị thấy mặt ông Đông rạng ra, rất vui. Ông hỏi dồn:
- Con biết mấy ảnh hả? Làm sao con liên lạc cho thầy gặp
được người đó.
- Dạ con biết. Mà mấy ảnh vẫn lo là thầy từ chối, nên người
đó chưa đi.
- Riêng thầy có ý muốn làm lâu rồi nhưng không biết ai để
liên hệ hết. Thầy sợ là mấy ảnh không tin thầy.
- Con có thưa trước với mấy ảnh rồi. Mấy ảnh biết thầy là
người tốt, có tham gia hoạt động hồi chín năm. Mấy ảnh nói thầy là một người
trí thức yêu nước.
Ông Đông cười:
- Mấy ảnh hay quá!
Những ngày sau theo sự chỉ đạo của anh Long được truyền qua
chị, ông Đông đã vận động được nhiều gia đình sĩ quan từ cấp úy trở lên bằng
lòng khuyên con em mình buông súng hoặc bỏ ngũ về gia đình nếu quân cách mạng
tiến công vào. Ông Đông cũng gây được những cơ sở bên cạnh mình, là những người
bạn thân của ông. Ông Lê Văn Sung chủ nhà in Hiệp Hữu, ông Đức Đồng Lợi, ông
Trần Quang Trinh – Phó ty Ngân khố, ông Đặng Văn Khuê tức Năm Thôm và ông Nguyễn
Văn Hường. Theo kế hoạch ông Trần Quang Trinh đã bí mật đem được hai mươi lít
xăng vào ty Ngân khố, khi quân ta vào, trong lúc chúng lo đối phó, ông sẽ châm
lửa thiêu hủy kho bạc gây cho chúng hoang mang, mất tinh thần.
Tình hình phát triển theo chiều thuận lợi, mỗi ngày tổ chức
nhận được từ cơ sở những tin mới đầy phấn khởi. Chị Phước như con thoi hằng
ngày đánh một vòng từ ấp Mười xã Hiệp Hưng lên thị xã rồi trở về. Khuya chị
xuống đò đi, chiều chị trở về theo đường xe tỉnh lộ 26. Từ khi móc nối được ông
Đông chị không đến nhà ông nữa mà hằng ngày gặp nhau ở quán nước trước nhà in
Hiệp Hữu lúc chín giờ sáng. Chị nhận tin tức từ ông Đông rồi theo đường bờ sông
vào chợ Ngã Năm gặp những cơ sở khác hoặc ghé lại nhà chị Huệ con ông Đốc
Trinh. Chị Huệ là bạn học rất thân của chị. Chồng Huệ lúc ấy là Trưởng ty Tài chánh kiêm trưởng ban
Chấp hành liên đoàn công chức cách mạng tỉnh Kiến Hòa. Qua Huệ chị Phước nắm
thêm được tình hình sĩ quan, công chức và ý đồ của chúng.
*
* *
Có một lần chị Phước kể với tôi:
“Tôi nhớ hôm đó là ngày 8 tháng 4 năm 1975 anh Ba Long cho
gọi Công Lý, lúc ấy là Phó an ninh xã Hiệp Hưng và tôi đến. Sau khi tổng hợp
tình hình, anh nói Tỉnh ủy quyết định đúng 0 giờ ngày 15 tháng 4 quân ta sẽ
tiến công đánh chiếm thị xã nhưng để tiết kiệm xương máu của đồng bào, chiến sĩ
Tỉnh ủy sẽ viết một bức thư cho Phạm Chí Kim hẹn ngày giờ quân ta tiến vào và
kêu gọi y đầu hàng. Anh hỏi tôi nghĩ xem bằng cách nào bức thư ấy đến được tận
tay của Phạm Chí Kim. Anh ngừng lại nhìn Công Lý, nhìn tôi rồi ngó về hướng
khác. Thật lâu tôi và Công Lý vẫn im lặng. Phải nói lúc đó tôi rối lên, suy
nghĩ mãi mà không biết làm sao. Đây là một việc quá bất ngờ và ngoài sức tưởng
tượng của tôi. Thấy tôi vẫn làm thinh anh Long nhìn tôi, cười:
- Bây giờ tôi đưa ba điều kiện.
- Sao anh Ba?
- Một là chị sẽ cầm thư đến Tòa Hành chánh đưa trực tiếp
cho Phạm Chí Kim.
Tôi sợ quá, không cần suy nghĩ gì tôi hỏi nhanh:
- Còn điều kiện thứ hai?
Anh không nói cũng không cười trước sự bối rối vụng về của
tôi. Tôi thấy mặt anh sắc lại, trán nhăn vẻ suy nghĩ lung lắm. Một lát anh mới
nói, giọng vẫn thản nhiên:
- Thứ hai là chị sẽ dẫn tôi, một người bảo vệ và Công Lý
đến gặp hắn.
Điều kiện này cũng làm tôi thất kinh. Mười năm rồi giờ kể
lại cậu nghe thản nhiên vầy chứ lúc đó tôi điếng người. Điều kiện này còn gay
go gấp trăm lần điều trước. Nếu tôi chấp nhận điều một thì có chết cũng chết
một mình tôi, với điều hai, còn anh, còn Công Lý nữa. Nói thật cậu lúc ấy tôi
sợ cho anh nhiều hơn cho tôi.
- Rủi nó bắt anh làm sao? - Tôi hỏi.
- Bắt thì chắc chắn nó bắt rồi đó nhưng chị tin đi nó sẽ
không làm gì được chúng ta đâu, sẽ không động tới sợi lông chân của chị nữa. Nó
chỉ bắt làm con tin thôi. Rồi chị coi lúc đó hễ tôi đòi ăn là nó cho ăn, đòi
uống nó sẽ cho uống, rồi tôi sẽ nói chuyện với nó một cách đàng hoàng. Nó sẽ
tiếp tôi như một vị khách quí.
Trời ơi chuyện nguy hiểm như vậy mà anh nói tỉnh bơ như nói
chuyện chơi. Tôi thì tôi rối ruột.
- Vậy rồi anh có đem súng theo không?
- Đem, nhưng không cầm tay - Anh cười - Chị đừng sợ, tôi đủ
cương vị để buộc nó tiếp tôi như một sứ giả. Nó là đại tá tôi cũng sẽ mặc đồ
đại tá mang quân hàm cách mạng đàng hoàng. Rồi chị sẽ thấy bọn lính gác sẽ hạ
súng đứng nghiêm chào khi chúng ta vào cổng. Còn chị, chị sẽ mặc áo dài như đi
đám cưới vậy.
- Còn điều kiện thứ ba?
Anh không trả lời cũng không nhìn tôi. Một lát anh nói:
- Điều kiện này dễ thôi. Chị tìm một người biết cách ăn nói
và có uy tín với Phạm Chí Kim, chị sẽ trao thư nhờ người ấy đưa cho nó.
Nói thật với cậu, cậu có nghĩ gì chị cũng chịu - Chị bỗng
đổi cách xưng hô với tôi. Giọng chị trở nên sâu lắng, thú nhận. - Lúc nghe anh
Ba Long đưa ra điều kiện thứ ba chị nghĩ ngay đến thầy Quách Chí Đông. Nhưng
chị cảm thấy xấu hổ nên kìm mình lại không nói liền sợ anh Long biết. Chị sợ
ảnh nghĩ khi điều kiện nào có dính dáng mình sợ nguy hiểm liền thối thác, còn
nguy hiểm cho người khác thì mình chấp nhận ngay. Mặc dù chuyện này thầy Đông
đủ tư cách hơn chị. Chị im lặng làm ra vẻ suy nghĩ, cân nhắc từng cơ sở một,
rồi chị nói:
- Theo nhận xét của anh thì từ hôm tôi móc nối với thầy
Quách Chí Đông làm cơ sở cho ta anh thấy thế nào? Ông có làm được việc không?
Nếu anh chấp nhận tôi xin giới thiệu ông Đông sẽ cầm thư trực tiếp đưa cho Phạm
Chí Kim.
Như đoán được điều ấy tất nhiên chị sẽ nói, anh Long cười gật
đầu.
- Tôi cấp cho chị năm ngàn đồng, mười lít xăng và hai ông
già, bây giờ chị đi liền lên thị xã bằng ghe máy mời ông Đông về đây cho tôi
gặp. Chị nói thế nào cho ông chịu đi và đúng chín giờ tối nay về tới.
Tôi nói:
- Anh cho tôi xin thêm một cái mùng, một cái mền với quạt,
nếu tụi nó có chận xét thì một trong hai ông già sẽ giả bịnh nặng, ghe chở đi
nhà thương. Còn nếu chín giờ tối nay tôi về chưa kịp thì chín giờ sáng tôi sẽ
về.
*
* *
Để hai người đàn ông lại giữ ghe, chị Phước bước lên bờ đi
thẳng đến nhà ông Đông. Lúc ấy khoảng năm giờ chiều.
- Thầy ngồi con hỏi thăm chút.
- Có chuyện gì vậy con?
Như linh cảm có điều hệ trọng, chị thấy ông Đông hồi hộp.
Đợi ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu, chị nói nhỏ:
- Từ hôm thầy nhận nhiệm vụ tới nay mấy anh trong ấy đánh
giá kết quả thầy đem lại rất tốt. Nay mấy ảnh bảo con lên rước thầy vô cho mấy
ảnh gặp để bàn với thầy một việc rất quan trọng.
Ông Đông giật mình, ngồi thừ ra. Những nét nhăn trên mặt
thầy bất động. Năm ấy thầy đã sáu mươi tám tuổi, da nổi vảy cá, nhăn nheo. Chị
thấy thương thầy quá!
- Chừng nào đi?
- Dạ đi liền bây giờ để chín giờ tới điểm.
Ông Đông sửng sốt, khoát tay:
- Không được đâu Phước.
- Sao vậy thầy?
- Đi đêm hôm vầy, đồn bót giăng giăng nguy hiểm lắm.
- Thầy yên tâm con có dò xét tình hình rồi. Nếu có gì thầy
cứ trùm mền giả bịnh vừa mới mạnh bác sĩ cho xuất viện.
Ông Đông im lặng.
- Đi thầy.
- Thầy nói không được.
- Được mà, không sao đâu thầy… - Biết ông Đông tìm cách
thối thác chị cứ giục hoài - … Đi thầy.
- Nếu thấy thầy vắng mặt tụi nó sẽ để ý, đến làm khó dễ,
một mình cô con đâu biết cách đối phó.
- Nội trong chiều mai con sẽ đưa thầy về đến nhà, tụi nó
không hay đâu. Thầy dặn cô nếu có ai hỏi nói thầy đi chơi bên Mỹ Tho.
Ông Đông im lặng lộ vẻ bối rối, chị Phước cứ giục. Trời tối,
ngoài mặt sông Bến Tre chỉ còn là một dãy trắng đục mờ mờ như vết xẻ của lưỡi
cưa cắt dọc rừng dừa phía bên Mỹ Thạnh An mà trong bóng tối nhập nhoạng chỉ còn
là một dãy dài nhấp nhô đen thẫm. Chị Phước cảm thấy lo. Ngay bây giờ về thì
vừa kịp chín giờ tới điểm, nhưng ông Đông vẫn chưa quyết định.
- Nói thật con hiểu cho thầy – Thật lâu ông Đông mới nói –
Nhà thầy lúc này đang túng quẫn. Thầy chịu đi nhưng con về báo tổ chức hoãn cho
thầy ít bữa, để thầy mượn đỡ một ít tiền cho cô con ở nhà mua gạo, mua đồ ăn.
Nhớ đến số tiền công tác phí tổ chức cấp lúc chiều, chị
Phước lấy ra bốn ngàn đưa cho ông Đông.
- Thưa thầy, thầy cầm tạm số tiền để lại nhà cho cô. Vì
việc quan trọng nên tổ chức bảo con phải rước cho được thầy về kịp chín giờ.
Ông Đông ngạc nhiên:
- Tiền ở đâu con có nhiều vậy?
- Dạ tiền này là của tổ chức cấp. Thầy cứ nhận đi. Đi liền
nghen thầy?
- Mà không được!
Chị Phước thất vọng. Lúc ấy chị muốn khóc.
- Con cho thầy suy nghĩ một đêm, thầy chưa có chuẩn bị gì
hết.
- Chuẩn bị gì thầy?
- Thầy phải suy nghĩ lúc vô gặp mấy ảnh thầy ăn nói ra sao,
bất ngờ quá thầy lúng túng coi sao được. À như vầy. Sáng đúng 7 giờ con cho cặp
ghe ở bến trước cửa nhà bác sĩ Trần Quế Tử, con đứng trước mũi cho thầy thấy.
Thầy sẽ đến đó trước dò xét tình hình. Nếu thấy mật thám lảng vảng ghe con vừa
cặp bến thầy sẽ đi tới nhưng không xuống ghe mà quẹo vô nhà bác sĩ Tử như người
đi khám bịnh. Con cũng vậy, con lên bờ và đi vô luôn. Còn không có gì thì thầy
sẽ đi xuống ghe.
Đêm đó chị quay về bến đò Rạch Vong đến nhà cơ sở nghỉ.
Đúng 7 giờ sáng ngày 9 tháng 4 ghe vừa cặp bến trước nhà bác sĩ Trần Quế Tử,
chị thấy dáng ông Đông từ xa đi lại bước xuống ghe vào thẳng trong mui.
Cuộc họp đêm 9-4 tại ban an ninh với sự chủ tọa của anh
Trần Văn Chiến triển khai kế hoạch đánh chiếm thị xã vào 0 giờ đêm 15 rồi đọc
toàn bộ nội dung bức thư của Tỉnh ủy gởi cho Phạm Chí Kim. Bức thư dài hơn hai
trang đánh máy mà đến nay khi kể lại chị Phước chỉ còn nhớ một đoạn: “Đúng
giờ hẹn chúng tôi sẽ nổ súng. Anh sẽ tự tay kéo một lá cờ xanh lên nóc Tòa Hành
chánh. Lá cờ xanh không phải lá cờ đầu hàng mà là lá cờ hy vọng, lá cờ hòa bình
để bắt tay với chúng tôi, để làm cho nhân dân và binh sĩ không còn chết chóc và
đau khổ. Còn phần anh thì cột khăn trắng ở cổ và đi ra ngả nào cũng có chúng
tôi rước…”.
- Vậy được không chú Tư ? – Anh Chiến hỏi:
- Được chứ, rất hay.
- Chú Tư đem thư trao thẳng cho Phạm Chí Kim thì ý nghĩ chú
như thế nào? Chú ốm yếu quá, rủi nó bắt giam cầm, tra tấn chú chịu sao nổi!
Ông Đông nhìn anh Chiến, nói quả quyết:
- Một khi tôi đã chấp nhận làm một việc gì có ích cho cách
mạng cho nhân dân thì dù có bắn, hay giết tôi cũng bằng lòng thôi không có ý
nghĩ gì hết bởi vì tôi đã làm một việc tốt.
- Đúng chú là một người làm cách mạng. Chừng nào chú có thể
trao thư được?
- Sáng mai.
Đêm ấy anh Ba Long mở Cassette phát lại chương trình biểu
diễn của đoàn văn công giải phóng tỉnh, rồi mở đài Hà Nội đang phát chương
trình Tiếng Thơ cho ông Đông nghe. Ông khen:
- Văn chương cách mạng hay quá! Tôi thích lắm nhưng ở thành
thì không dám mở nghe.
*
* *
“Đúng 9 giờ sáng ngày 10 tháng 4 tôi gặp lại thầy Đông tại
quán nước trước nhà in Hiệp Hữu. Tôi hỏi:
- Xong chưa thầy?
- Khoan. Để thầy suy nghĩ.
Mới có một đêm mà tôi thấy thầy sút hẳn. Thầy trở nên ít
nói hơn mọi ngày. Tôi tưởng là thầy sợ nên cứ chần chừ, hôm sau tôi đánh bạo
hỏi, thầy nói thầy đang suy nghĩ xem khi gặp Phạm Chí Kim thầy phải nói như thế
nào và đối phó ra sao khi nó hỏi vặn. Dù thầy là người mà Kim rất quí, y thường
mời thầy đánh bài, uống trà sau giờ làm việc nhưng đây là chuyện đấu tranh giữa
hai chí hướng. Đến ngày 13 như thường lệ sau khi gọi một ly cà phê cho thầy và
ly đá chanh cho tôi, tôi hỏi:
- Sao thầy?
Thầy đáp nhỏ:
- Thầy định đi.
Nhìn vẻ mặt thầy căng thẳng và trầm lặng tôi cũng không hỏi
thêm gì, uống xong ly cà phê thầy dặn tôi:
- Mười phút nữa con trở lại đây”.
*
* *
Ông Đông vào Tòa Hành chánh đến thẳng văn phòng Tỉnh
trưởng. Tên bảo vệ Kim chào:
- Ông Tư. Ông đi đâu vậy?
- Ngài Tỉnh trưởng có nhà không, chú?
- Dạ có.
Ông Đông móc trong túi áo ra tấm danh thiếp đưa cho Sơn –
tên bảo vệ.
- Chú vào báo với ngài là tôi cần gặp.
Sơn cầm danh thiếp đi vào phòng Kim, một thoáng hắn chạy
ra.
- Dạ, ngài Tỉnh trưởng mời ông vào.
Vừa thấy ông Đông, Phạm Chí Kim đứng dậy bắt tay và mời ông
ngồi xuống chiếc ghế đối diện, bên kia bàn.
- Có chuyện gì không ông Tư? – Kim hỏi:
- Tôi cần gặp riêng ngài để thảo luận một chuyện bí mật.
Nhưng ở đây có tiện không?
- Được – Kim gọi lớn – Sơn à, cho tụi bây đi chơi nghen.
Có tiếng đáp “dạ” ở bên ngoài.
- Được. Có chuyện gì ông Tư cứ nói. - Vừa nói Kim vừa vói
tay ra sau lưng ghế nhấn nút mở máy thu băng.
Ông Đông nói chậm rãi:
- Cách nay ba hôm gần giờ giới nghiêm có hai chiếc xe
Suzuki một đen, một đỏ bỗng dừng lại trước nhà tôi, trên đó có bốn sĩ quan. Họ
gõ cửa gọi: “Ông Tư ơi, còn thức hay ngủ ông Tư?”. Tôi mở cửa thấy trên vai áo
họ đều mang quân hàm, nhưng mắt tôi nhìn không rõ hình như có một đại úy, mấy
người kia là trung úy hay thiếu úy gì đó. Ban đầu tôi tưởng là sĩ quan quân đội
cộng hòa. Khi nói chuyện mới biết họ là sĩ quan cách mạng.
Kim giật mình. Đang ngồi trong tư thế hai cánh tay để trên
bàn, những ngón tay đan vào nhau, y bỗng trở bộ, giật tay ra. Ông Đông nhận
thấy mặt Kim biến đổi. Ông tiếp tục:
- Mấy anh đó nói vì biết tôi là cựu giáo viên, thân hào
nhân sĩ ở đây nên yêu cầu tôi một việc là đưa thư của cách mạng cho ngài…
Ông Đông dừng lại.
- Rồi sao? – Kim nôn nóng.
- Tôi không bằng lòng, anh ấy cắt nghĩa cho tôi nghe, sau
tôi thấy đưa cho ngài là có lợi hơn.
Ông Đông lại nhìn thẳng vào mắt Phạm Chí Kim. Trong ánh mắt
Kim lộ vẻ lo lắng và rõ ràng Kim đang bị cuốn hút vào câu chuyện.
- Rồi sao nữa, ông Tư – Kim giục.
- Tôi chịu nhận thư. Bốn người ấy liền lên xe đi. Tôi xem
đồng hồ lúc ấy còn năm phút nữa là tới giờ giới nghiêm. Mấy ngày nay tôi suy
nghĩ rất nhiều không biết có nên đem thư ấy cho ngài không?
- Tại sao? – Kim hơi nhổm dậy.
- Vì đem thư cho ngài thì có lợi cho ngài mà có hại cho
tôi.
- Sao vậy?
- Vì nếu ngài thương thì thôi, bằng không thương sẽ nghĩ
tôi là người của phía bên kia rồi bắt, rồi tra khảo hoặc giết tôi như tội phạm.
- Rồi sao nữa?
- Tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Cuối cùng tôi quyết định là
nên đem thư đến cho ngài vì việc đó sẽ có lợi cho ngài, cho nhân dân dù có hại
cho tôi.
- Ông có đọc không?
- Thư của Đại tá tôi đâu có quyền đọc.
- Được, ông cứ đưa.
Ông Đông lấy thư đặt ở giữa bàn. Ngoài phong bì còn nổi rõ
hai dấu mộc đỏ của Ủy ban nhân dân và Ty an ninh nhân dân. Thấy bức thư, Phạm
Chí Kim vội ngã người ra lưng ghế.
- Sơn à – Kim gọi nhanh – đem bao thư vô phòng thí nghiệm
mở ra rồi đem đây cho tao.
Sơn đem thư vào phòng rà mìn không đầy năm phút sau hắn trở
ra trải bức thư dài trên bàn trước mặt tên Tỉnh trưởng. Đọc xong, Phạm Chí Kim
kéo ngăn bàn đút bức thư vào.
- Thưa Đại tá, nếu ngài cần tôi có thể cùng ngài thảo luận
nội dung bức thư.
- Thôi, khỏi. Tôi sẽ giữ bí mật việc ông làm, ông cứ yên
tâm về đi, tôi sẽ có cách đối phó.
Kim đứng dậy bắt tay ngỏ lời cảm ơn ông Đông rồi tiễn ông
ra cửa.
*
* *
“Đã hứa kể với cậu thì kể cho trót, tôi sẽ kể luôn những
chuyện hết sức ngây thơ của mình mà bây giờ nghĩ lại thấy thật buồn cười. Trong
đời tôi chưa bao giờ gặp tình huống hết sức khổ tâm như lúc ấy. Sau khi bức thư
đã được thầy Đông trao tận tay Phạm Chí Kim rồi sáng ngày 14 tháng 4 tôi lên
thị xã thấy tình hình khác hẳn. Ở các ngả vào thị xã, ở các ngã tư, ngã ba
chúng đang ráo riết xây lô cốt. Đặc biệt trước cửa Hội trường Công chức chúng
xây cả hai bên. Thì ra cách đối phó mà tên Tỉnh trưởng nói với thầy Đông là như
vậy. Tôi về định báo lại với anh Ba Long. Vừa thấy tôi, anh nói:
- Chị Mười, đến ngày đánh rồi. Chị đã hẹn với hết các cơ sở
rồi phải không?
- Dạ.
- Ngày mai chị lên hồi tất cả. Không đánh. Chị nói sao cho
nó đừng khi ta mà lại càng sợ ta.
Tôi suýt kêu trời. Nghe anh nói tôi muốn bật ngửa. Choáng
váng. Cậu nghĩ coi, để hẹn được với nó ngày đánh cũng trầy trật, khổ sở rồi bây
giờ lại đi hồi, biết ăn nói làm sao?
- Chị cứ tập nói đi. - Anh Long thúc. Thấy tôi ngồi thừ như
chết rồi anh Ba Long cười:
- Thôi, chị đi chơi chút đi, năm phút nữa chị trở lại. Chị
cứ nói, cứ coi tôi như thằng giặc. Khi gặp nó chị nói thế nào thì nói với tôi
thế ấy.
Tôi rảo ra vườn đi như kẻ mất hồn. Không còn bụng dạ nào để
thích nhìn ngắm nữa. Quanh quẩn một hồi tôi trở lại.
- Sao, chị cứ nói đi, coi như nói với vợ chồng tên trưởng
ban Chấp hành liên đoàn công chức vậy.
Tôi vẫn làm thinh. Để động viên, xây dựng tôi anh nói làm
một người chiến sĩ an ninh hoạt động trong lòng địch là phải vô cùng bình tĩnh,
gan dạ, dũng cảm và mưu trí. Anh kể tôi nghe chuyện anh hoạt động hồi ở Sài
Gòn. Có một lần anh ở trọ nhà một cơ sở người Hoa. Họ dành sẵn cho anh căn lầu.
Đến một hôm đi công tác về anh mời vợ chồng người ấy lên phòng nói rằng cơ sở
bị bể, mật thám đánh hơi được anh ở đây rồi, hiện chúng đang gác ngoài cổng và
bế hết mọi ngõ hẻm có thể thoát thân, chút nữa sẽ ập vào nhà khám xét. Mặt hai
vợ chồng người ấy cắt không còn chút máu. Anh nói họ cứ yên tâm, tụi nó sẽ
không làm gì được anh cũng như không có cơ sở gì để làm khó dễ chủ nhà. Tất cả
mọi tài liệu anh đã chuyển đi từ mấy hôm trước. Họ không tin. Đến khi thấy
phòng trống trơn không còn một dấu vết nào chứng tỏ trước đây mấy ngày là nơi
đặt điện đài, tài liệu thì cả hai vợ chồng đều tỏ vẻ kinh ngạc. Họ không biết
anh chuyển đi vào lúc nào và bằng cách nào. Nhưng lúc này không ai tin anh sẽ
thoát được. Anh nói rằng anh sẽ đi ra bằng cổng chính đàng hoàng trước mặt kẻ
thù mà chúng không hề hay biết. Anh sửa lại cà vạt, khoác áo veste vào, mang
kính râm ung dung đi xuống thang lầu. Anh bước chậm nhưng đều nhịp, tay cầm
điếu thuốc đang hút nhịp nhịp vào khoảng không trước mặt. Ra đến cổng, chỗ hai
tên cảnh sát đang đứng gác, anh móc gói thuốc ra mời chúng rồi ra hiệu chúng
chú ý đến căn lầu. Gác kỹ nghen! Anh gằn từng tiếng. Hai tên dạ một lượt. Có lẽ
chúng nghĩ rằng anh là sĩ quan mật vụ đã đột nhập được vào tòa nhà dò xét tình
hình. Anh ra hiệu và nhắc lại “gác kỹ nghen!” một lần nữa rồi đi qua quán nước
bên kia đường. Ngồi ở chiếc bàn gần cửa anh gọi ba hộp bia, chốc chốc anh nhìn
qua hai tên cảnh sát như cấp chỉ huy kiểm tra chúng. Mỗi khi chúng nhìn qua,
anh lại chỉ tay lên căn lầu như bảo: “Hãy coi chừng nó thoát”. Một lúc sau có
hai chiếc xe Jeep chở cảnh sát, quân cảnh tới. Chúng xuống xe ập vào nhà. Vừa
lúc ấy anh đứng dậy ngoắc chiếc taxi. Bọn chúng không thể nào ngờ được…
Một lần khác, chúng đã đánh hơi được anh nên cho một thằng
trung tá mật vụ bám sát. Nơi anh ở và làm việc là tầng ba của một tòa nhà rất
lớn. Phía sau nhà có cái ao rộng, sình lầy đen nhẽm. Con đường nhỏ cách tường
nhà với bờ ao chừng hai mét, vì hôi hám nên ít ai qua lại. Thằng trung tá giả
dạng người câu lươn, ngày nào nó cũng đùm túm cơm nước đến ngồi câu tối mịt mới
về. Một buổi chiều anh xuống đi nhởn nha như người đi dạo. Một lát như muốn bắt
chuyện với người câu lươn anh bước lại hỏi thăm. Tên ấy cũng trả lời nhưng ánh
mắt dò xét anh từng chút. Khi bắt vào chuyện câu lươn anh nói như dân nhà nghề
sành sỏi: Nào là đặc tính của con lươn như thế nào, thích nghi với môi trường
nào, ăn mồi gì, lúc nào đói, muốn câu được cần phải có những kinh nghiệm gì...
Anh nói hay đến nỗi thằng trung tá câu lươn ngạc nhiên, trố mắt nhìn anh và
lóng tai nghe. Kể xong chuyện câu lươn anh liền điểm mặt nó. “Nhưng tôi nói cho
chú mày biết chỉ có bọn mật thám mới đi câu lươn, chứ dân thường không ai đến
đây đâu. Chỗ này là chỗ tôi làm việc tôi cấm chú mày bén mảng tới lần nữa!”.
Thằng mật vụ mặt tái xanh vội vác cần xách giỏ đi mất. Biết cơ sở bị bể nhưng
anh vẫn ở đó ba ngày nữa để chờ thằng mật vụ. Không thấy nó léo hánh tới…
- Sao, chị nói đi chứ! Giáp mặt với nó chị sẽ nói gì để nó
không khi mà phục mình. - Kể xong anh hỏi tôi.
Tôi vẫn làm thinh. Anh bảo đến ba lần tôi cũng không nói.
Thật lúc ấy tôi muốn khóc hết sức. Tôi tưởng anh Long nổi quạu, nhưng giọng anh
vẫn nhỏ nhẹ:
- Chị đi một vòng nữa đi. Chị ra rửa mặt rồi sang bên Công
Lý cho thoải mái một chút.
Có lẽ dáng vẻ tôi lúc ấy thật thảm hại nên vừa thấy tôi
Công Lý giật mình.
- Có chuyện gì vậy? Bộ bị anh Ba rầy hả? Chị qua đây uống
nước!
- Có chuyện này khó khăn rắc rối quá chú Tư. Anh Ba bảo
tôi ngày mai phải lên nhà tay Trưởng ban
Chấp hành liên đoàn công chức hồi kế hoạch
đánh của mình, mà nói sao cho nó vừa sợ vừa phục chứ không khinh mình.
Tưởng Công Lý sẽ thông cảm và bày cho tôi cách nói không
ngờ chú ấy cười:
- Tôi tưởng là chị bị anh Ba rầy. Thì chị cứ nói đại, nghĩ
sao nói vậy chứ gì.
Tôi tức cành hông. Uống hết ly nước tôi liền đứng dậy về mà
không chào Công Lý. Tôi đi lòng vòng chứ không dám lên chỗ anh Ba. Một hồi, anh
Ba Long ngoắc tôi. Anh cười:
- Sao, nãy giờ chị suy nghĩ sao, nói đại đi?
Tôi cũng cười gượng:
- Thôi anh Ba, đừng cho tôi nói chuyện đó trước mặt anh.
- Sao vậy? Nếu chị có lý do tôi sẽ không hỏi nữa.
Anh quay nhìn hướng khác. Tính anh vẫn vậy, khi anh nói
hoặc khi chờ tôi nói thì anh nhìn tôi còn lúc tôi bắt đầu nói thì anh nhìn nơi
khác.
- Nói với địch thì tôi nói được, tôi sẽ có cách đối phó.
Còn với anh tôi không nói được.
- Tại sao?
- Tôi không thí dụ anh là giặc được. Để tôi lên gặp vợ
chồng chị Huệ, coi thái độ chị ấy ra sao. Nếu chị niềm nở tôi sẽ nói khác. Còn
buồn, hay nghi ngờ tôi sẽ nói khác.
- Vui thì nói gì?
Tôi cười:
- Tôi không nói được.
- Còn quạu thì sao? - Anh cười mà giọng lại quạu.
- Thôi anh Ba, tôi nói tôi không thí dụ anh là giặc được
mà!
Anh cười:
- Thôi tôi không ép chị nữa. Mai chị ráng nói sao cho thành
công”.
*
* *
Sáng chúa nhật (15-4) tại nhà chị Huệ, con ông Đốc Trinh.
Thấy chị Phước bước vào Huệ giật mình.
- Trời ơi, chị Phước, chị lên hồi nào? Tình hình ở dưới ra
sao chị?
Thái độ của Huệ làm chị Phước yên tâm, biết là chồng Huệ
không có âm mưu tráo trở dù anh ta vẫn tiến hành chỉ huy xây lô cốt ở Hội
trường Công chức theo lệnh Phạm Chí Kim. Mấy ngày trước chị đã khéo léo thông
báo cho Huệ biết kế hoạch đánh chiếm thị xã của ta và xây dựng Huệ thuyết phục
được chồng không ra lệnh bắn khi ta tấn công vào.
- Khỏe rồi, chị ơi! Mà khoan, để tôi nghỉ mệt một chút rồi
tôi nói chị nghe. Nay chủ nhật mà ảnh đâu không thấy?
- Ảnh vừa đi uống cà phê. Sao, chị nói khỏe rồi là sao?
- Hôm qua khoảng một giờ trưa tôi ra vườn đốn chuối. Nhà
tôi ở gần Phân chi khu còn vườn thì cách xa gần cây số. Vừa ra tới bỗng có một
người còn trẻ có mang côn, thấy là biết mấy “chả” liền, đến nói với tôi:
“Chúng tôi không đến thì thôi còn đến thì xin chị cảm phiền, chúng tôi mời chị
ở lại. Chừng nào chúng tôi đi chị hãy về”. Biết mình bị giữ, tôi vô chòi nấu
cơm. Cứ một lát có vài người tới, đến tối đông lắm, đâu gần hai chục người.
Khoảng chín, mười giờ có hai ba ông cao lớn tới. Có một ông nước da trắng, sống
mũi cao, tôi nghe loáng thoáng hình như làm tới trung đoàn trưởng. Ông đó trải
tấm bản đồ thị xã Bến Tre ra, cầm đèn pin rọi vào từng điểm một.
- Lúc đó chị làm gì? - Huệ hỏi, mặt xám ngắt.
- Tôi quýnh hết trơn, ngồi không đám nhúc nhích. Sau khi
ông trung đoàn trưởng chỉ trên bản đồ từng điểm mà tiểu đoàn nào chịu trách
nhiệm đánh, tới phần các tiểu đoàn trưởng báo cáo quân số. Trời ơi nghe mà tối
mặt chị Tư ơi! Chừng ông pháo binh báo cáo tôi mới điếng hồn. Pháo mà loại 80,
81 ly trở lên là 300 cây. Còn đạn họ nói đâu mấy trăm, mấy ngàn xuồng.
- Trời ơi, súng đạn đâu mà dữ vậy?
- Chứ chị không nghe cả tháng nay tàu Nga vô hả họng ở sông
Hàm Luông sao? Kế hoạch là họ sẽ bắn vào thị xã 2.000 quả mo-rơ-chi-ê lận!
Mặt Huệ tái nhợt, điếng hồn.
- Pháo binh báo cáo xong, họ xếp bản đồ lại, ngồi uống trà.
- Chị Phước nói tiếp - Một lát có người báo là bà Định về tới. Hồi nào tới giờ
tôi mới biết bả, mập mạp, nước da trắng coi phúc hậu lắm. Bà nói vì xuồng hư
nên tới chậm. Bà hỏi người trung đoàn trưởng triển khai kế hoạch như thế nào?
Nghe xong bà nói: “Không được, vì kế hoạch đó thắng mà hao xương máu của chiến
sĩ, đồng bào mình kể cả binh lính ngụy. Dù ngụy nhưng họ cũng là dân Việt Nam ,
dân Bến Tre. Tôi đồng ý đánh nhưng đánh bằng cách nào cho đừng đổ máu. Đề nghị
các đồng chí đình lại kế hoạch này”.
Nghe tới đó, Huệ reo lên:
- Trời ơi, hoan hô bà Định. Bà Định thương dân quá! Ảnh về
mà nghe tôi kể lại chuyện này chắc ảnh mừng lắm. Hổm rày ảnh sợ quá không ăn
ngủ gì được. Vậy là không đánh luôn hả chị Phước.
- Tôi nghe mấy ổng nói thế nào cũng đánh, kế hoạch giải
phóng tỉnh vạch ra rồi. Kỳ này mấy ổng quyết giải phóng toàn miền Nam
mà. Buôn Ma Thuột, Pleiku, Huế... đã giải phóng rồi. Tỉnh mình thì mấy ổng còn
nghiên cứu đánh cách nào cho nhân dân và sĩ quan, binh lính ít đổ máu.
- Trời ơi, mấy ổng tràn vô rồi pháo kích, rồi bắn súng,
chọi lựu đạn làm sao không đổ máu được. Chắc chết hết quá chị Phước!
- Nếu mình không bắn thì mấy ổng bắn làm chi. Chị cứ nói
ảnh đừng ra lệnh bắn, nếu mấy ổng phát loa gọi đầu hàng cứ mở cửa ra nộp vũ khí
thì ảnh còn có công nữa.
- Thiệt hả chị Phước?
*
* *
“Sáng hôm 16 tháng 4, như thường lệ tôi gặp thầy Đông. Thầy
bảo tôi:
- Tụi nó theo dõi thầy dữ lắm. Từ nay ba ngày con hãy gặp
thầy một lần. Có chỉ đạo gì thêm không, Phước?
Tôi nói:
- Cứ vậy, thầy lo móc nối với cha mẹ sĩ quan bảo họ thuyết
phục con em mình không bắn trả khi quân ta vào, như trước tới nay.
Tôi về báo cáo với anh Ba Long. Anh cho rằng thái độ của
ông Đông như vậy là tụi nó có ý đồ gì đây. Anh bảo tôi lên mời ông về cho anh
gặp. Đến ngày 19 như đã hẹn với thầy tôi lên nói ý của anh Ba Long. Thầy Đông
nói không đi được vì ngày 20 đi đến 21 thầy không về kịp để dự phiên tòa đại
hình ở Mỹ Tho xử người Bến Tre mà Phạm Chí Kim vừa gởi giấy mời. Lúc ấy thầy là
phó thẩm nhân dân, cứ mỗi phiên tòa đại hình Kim đều mời thầy dự để sau khi
luận tội thầy có thể xin ân giảm. Đó là sự quí trọng mà Kim dành cho thầy.
Nhưng ở phiên tòa nầy rõ ràng chúng có sự sắp đặt. Cho nên khi tôi về báo lại,
anh Ba Long chỉ thị sáng 21 tôi phải sang Mỹ Tho vào tòa án, nếu chúng chận hỏi
thì nói là tìm ông Đông. Bằng cách đó nó sẽ bắt tôi đúng như cái bẫy chúng đã
gài sẵn. Trọng trách của tôi là nói thẳng vào mặt chúng. Không phải chỉ riêng
thầy trò tôi mà tất cả quần chúng nhân dân đã nổi dậy đồng loạt giải phóng,
giành lại chính quyền từ tay những tên bán nước. Những lời nói ấy kết hợp với
tình hình chung ta đã giải phóng được một số tỉnh và tình hình khủng hoảng
chính trị nghiêm trọng ở Sài Gòn sẽ làm cho tinh thần chúng hoang mang cực độ.
Đó là một trong những yếu tố gây sức ép buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện.
Tối hôm ấy anh Ba Long đưa tôi đến gặp anh Hai Trung - Trưởng ban An ninh Khu
Tám - đang công tác tại Bến Tre. Anh Hai nói chuyện rất nhiều, rất hay, có một
câu mà đến bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn xúc động. Anh nói: “Tôi thay mặt cho
toàn dân tỉnh Bến Tre cám ơn chị. Chúng tôi coi chị như một nữ tướng cầm cương
lên ngựa đánh với tám chục ngàn quân của
Phạm Chí Kim”. Tôi thấy mình không xứng đáng để nhận những lời khen tặng ấy
nhưng nó là nguồn động viên, cổ vũ rất lớn đối với tôi trên bước đường đấu
tranh cách mạng”.
*
* *
Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười năm. Dù thời gian, liều
thuốc tàn nhẫn, có thể làm người ta lãng quên nhiều chuyện nhưng nó không thể
nào tẩy xóa được cái mốc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của lịch sử dân tộc
trong mỗi con người Việt Nam .
Với chị Phước trận đánh trước ấy vẫn sống trong lòng chị như những dấu ấn khắc
sâu. Chị kể với tôi hôm gặp thầy Đông sau ngày giải phóng, cũng ở quán nước
trước đây chỉ khác là phố xá hôm ấy rợp cờ đỏ sao vàng, chị đã khóc ngon lành.
Những giọt nước mắt trong ngày chiến thắng!
Đến bây giờ, dù đã nhiều lần tiếp xúc, nghe chị kể chuyện
tôi vẫn không sao quên được những nhận xét ban đầu của mình mỗi khi gặp chị. Đó
là một bà mẹ cũng như hàng ngàn bà mẹ ở nông thôn đều biểu hiện những đặc tính:
Tất bật trong công việc, đảm đang và thương yêu chồng con hết mực.
3-1985
NT