Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ CĂN PHÒNG ĐÓNG KÍN



Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Vậy là ông không đến. Chỉ lần này hay mãi mãi Du sẽ không gặp lại ông? Bây giờ nghĩ lại, Du mới tin sự linh cảm của mình. Mấy hôm nay không biết sao lòng dạ Du cứ bồn chồn, khắc khoải nhớ đến ông. Cứ nghĩ gần tới ngày gặp được ông thì nỗi mong đợi ấy cũng là chuyện bình thường. Nhưng không phải vậy.
Thật ra ông và Du không ai thốt ra một lời hẹn. Vậy mà, như một sự mặc định, đã năm năm nay cứ ngày này thì Du và ông lại gặp nhau. Cũng vẫn là ngôi nhà nghỉ cũ kỹ của Thư - cô bạn học ngày xưa của Du - nằm cạnh bờ sông ở một thị trấn ven biển. Nói là bạn học cũ, như Thư đã giới thiệu Du với ông hôm gặp đầu tiên, chỉ là một nửa sự thật. Còn một nửa, dĩ nhiên Thư không nói, mà Du cũng không tiện nói với ông hay với bất kỳ ai, Thư chính là mối tình đầu của anh. Nhưng chuyện này nói ra bây giờ, giữa thời các cặp đôi “không cần hoàn hảo”, chỉ ở ngưỡng cấp ba thôi đã rủ nhau vào nhà trọ như đi “vào trường”, có khi là đề tài mua vui cho các cô cậu trong lúc thư giãn để tiếp tục “tăng hai”. Ông nói ông là bạn của  ba Thư. Một sự ngẫu nhiên kỳ lạ là ông cũng về chùa Bửu Huệ như Du. Rồi thôi, không ai nói rõ lý do. Mà cần gì nói lý do mình đi chùa trong khi ai cũng hiểu đi chùa là để lễ Phật! Có lẽ mối thiện cảm giữa ông với Du bắt nguồn từ đó, được củng  cố thêm niềm tin bởi lời giới thiệu của Thư, nên ông vui vẻ chấp nhận cho anh nghỉ cùng phòng.

Du bước vào nhà nghỉ với sự ngỡ ngàng của Thư. Đến mức, khi chuẩn bị kéo  cánh cửa sắt đóng lại, thấy Du lù lù xuất hiện, nàng giật bắn mình, cứ ngỡ gặp ma. Lúc ấy đã hơn mười giờ đêm. Chuyến xe khách đưa Du về muộn vì một sự cố ở cửa ngõ thành phố làm giao thông ùn tắc. Một cô gái đang đi trên lề bỗng nhiên trút bỏ  quần áo, khoả thân đứng giữa đường. Người tài xế đầu tiên phát hiện, thắng gấp. May là các xe phía sau vẫn giữ khoảng cách an toàn, chứ không thì xảy ra một vụ  đụng liên hoàn. Ai cũng nghĩ cô ta tự tử. Kèn xe vang lên lẫn với tiếng chửi thề của tài xế. Cô không mảy may phản ứng, như không hề nghe thấy. Dáng đứng nghiêm  trang, đầu thẳng, mắt nhắm. Câm? Điếc? Tâm thần?… Không phải. Mặt đẹp, dáng  đẹp, hoàn hảo cả ba vòng như hoa hậu vậy đâu có tí tẹo biểu hiện gì câm điếc hay tâm thần! Xôn xao những lời bình luận. Không ai chịu ai. Kèn xe vẫn tiếp tục vang lên, không phải một mà nhiều tiếng đồng loạt vang lên như xé toang bầu không khí. Nude thiền. Chính là nude thiền. Ối trời. Người ta vỡ òa khi nghe giọng ồm ồm của  người đàn ông ngồi ở cabin, ngang với tài xế lên tiếng. Câu nói vừa là sự phát hiện mới mẻ, vừa là sự giải thích mà có lẽ mọi người cho là hợp lý, hay ít ra cũng tạm chấp nhận vì chưa tìm được cách lý giải thỏa đáng hơn.
Phải mất hơn một tiếng đồng hồ trật tự mới được vãn hồi, xe cộ lần lượt lưu thông trở lại bình thường, sau khi nhà chức trách đến giải tán đám đông hiếu kỳ và đưa cô ta vào lề đường, buộc phải mặc lại quần áo.
 “Hăm mấy năm rồi, gặp lại vẫn không thấy Du có sự thay đổi gì. Vận đen vẫn còn bám suốt”.
“Là sao?”
“Thì đó. Trên đường gặp người cởi truồng, xui tận mạng nên về nhà nghỉ không còn chỗ ngủ”.
Thư nói thường ngày nhà nghỉ của Thư ế khách vì nó quá cũ kỹ, không bì kịp với những nhà nghỉ mới mọc lên những năm gần đây. Nhưng mấy hôm nay, khách từ phương xa đến rất đông để xem “Ông luỵ”, tấp vào bãi biển ở làng Ba Thủy. Đó vẫn chưa phải là lý do chính cho cái “xui tận mạng” mà Thư vừa gán cho Du. Nhà nghỉ của Thư luôn có một phòng để trống từ thời ba Thư làm chủ. Dù kẹt phòng thế nào ông cũng không cho khách thuê. Cửa thường đóng im ỉm. Cứ lâu lâu Thư lại thấy ba xuống đó quét dọn. Thỉnh thoảng có một ông bạn đến và chỉ có ông ấy mới được ba Thư bố trí ở đó, chỉ phòng đó thôi chứ chưa bao giờ thấy ông ở phòng khác. Sau này Thư vẫn làm theo lời ba dặn. Từ ngày ba mẹ Thư sống ở nước ngoài, ông bạn ấy ít đến, mỗi năm chỉ một lần. Nhưng có điều rất lạ là ông chỉ đến đúng ngày mười bốn tháng Bảy âm lịch, nghỉ ở đây một đêm để sáng hôm sau đến chùa Bửu Huệ.
“Lại đúng là đêm nay. Chú ấy mới tới hồi chiều. Hay là… Du ngồi uống nước, chờ Thư một chút”.
Cũng chẳng đợi lâu. Chừng mười phút sau Thư trở ra với một ông già khoảng gần bảy mươi tuổi. Không hiểu sao vừa thấy ông, người Du cảm giác như có luồng điện chạy dọc sống lưng. Hay có lẽ do cơn gió từ ngoài ùa vào mang hơi lạnh vì trời đang lất phất mưa? Và cho tới bây giờ Du cũng không thể quên ánh mắt ông nhìn anh lúc đó. Lạ lắm, nó vừa sắc lẹm nhưng cũng vừa ấm áp và có cả chút châm chọc kín kẽ khi nghe Thư giới thiệu về Du.
*
*   *
“Chú em vẫn còn mang chiếc bi đông ấy bên hông lúc hướng dẫn khách tham quan rừng à?”
Vừa từ buồng tắm bước ra, sự sảng khoái còn lan toả bởi những tia nước ấm gột rửa bụi đường và xua đi cảm giác uể oải vì ngồi xe suốt cả ngày, Du bỗng khựng lại khi nghe ông hỏi. Vậy là ông đã gặp và còn nhớ đến anh. Nhớ cả cái tiểu tiết trong mắt mọi người nhưng là rất quan trọng với Du.
 “Dạ”. Du chỉ trả lời ông như vậy dù tâm trạng lúc này của anh muốn bày tỏ nhiều hơn, như một sự thanh minh, hay đúng hơn là lời xin lỗi vì không nhận ra ông ngay lúc vừa gặp lại.
“Hơn hai năm rồi, chú vẫn chưa trở lại thăm rừng?”
Ông cười, nụ cười méo xệch nhưng mắt thì nheo lại vẻ lém lỉnh như tự chế giễu mình. Du hiểu đó là một cách trả lời. Đôi khi trước một câu hỏi ta không chỉ đơn giản trả lời là có hay không, đúng hay sai, được hay mất gọn lỏn, khô khan mà cần phải nói lý do. Nhưng đâu phải lúc nào cũng bày tỏ được khi ta không muốn nói dối, mà nói thật thì không thể. Du cũng đã từng như vậy nên cảm nhận được nụ cười và ánh mắt của ông. Tự nhiên nó nhói lòng anh, cũng chẳng hiểu tại sao. Thật ra, ông đã gây ấn tượng trong Du ngay trong lần gặp đầu tiên, bởi sự tò mò của ông không hề giống với một du khách nào mà anh từng gặp.
Hôm đó ông đi trong đoàn văn nghệ sĩ đồng bằng. Đã được thông báo từ mấy ngày trước, Du đã có sự chuẩn bị. Thật ra công việc hướng dẫn và thuyết minh về Vườn Quốc gia này là công việc hàng ngày của Du suốt gần chục năm nay. Có ngày anh phải hướng dẫn đến hai, ba đoàn. Chỉ là những việc quen thuộc cứ lặp đi lặp lại đối với Du nhưng hết sức cần thiết với khách tham quan. Đầu tiên là nhắc họ tóm ống quần bỏ vào vớ, bôi thuốc chống vắt lên giày, không được xâm hại bất cứ vật gì của rừng từ một bông hoa dại đến viên đá cuội. Sau đó anh sẽ giới thiệu khái quát  về vị trí địa lý, chủng loài động, thực vật, những giống loài được ghi vào sách đỏ đang có nguy cơ tuyệt chủng. Cuối cùng là tầm quan trọng của khu rừng với môi trường sống của con người. Với đoàn khách đặc biệt này, Du muốn đi sâu hơn đến từng chi tiết - những gì anh biết - với mong muốn gợi cảm hứng cho những người sáng tạo.  
Đến gốc đại thụ Du đề nghị đoàn dừng lại, nghỉ một lát rồi hãy đi tiếp. Vẫn còn xa lắm mới ra khỏi rừng, đến con đường lớn. Mọi người ồ lên vẻ vừa ngạc nhiên vừa thú vị.
Đó là gốc cây tung gần bốn trăm tuổi. Sống ở đồng bằng, chắc chưa ai từng thấy cây nào cao to đến vậy. Có lẽ phải hơn chục người dang thẳng đôi tay đứng  vòng quanh gốc mới giáp, bởi từ mặt đất lên một khoảng, thân nó toẽ ra những rẽ quạt tựa những chiếc bánh lái ghe khổng lồ. Lạ một điều là dù lên hàng cổ thụ nhưng da dẻ nó vẫn mịn màng chứ không cóc cái, u nần như ở những loài cây khác có tuổi thọ ít hơn. Nhưng quanh nó, những tảng đá lớn nhỏ, nhẵn thín và đen trùi trũi lại cho ta cái cảm giác cũ kỹ, hao mòn bởi thời gian.
Chống chiếc xà gạc xuống đất, Du nói về những loài cây, những động vật hiện sống ở khu rừng, cho dù có một vài loài thoắt ẩn, thoắt hiện. Chỉ quanh khu vực đoàn vừa đi qua, thi thoảng có một cây thật to bị chết khô nhưng áp sát thân nó là một cây khác cành lá sum suê, mơn mởn. Đó là hệ quả của một quá trình từ ký sinh, cộng sinh rồi đến triệt tiêu cây chủ của loài đa bóp cổ... Du kể nhiều chuyện, từ chuyện con heo rừng một nanh càng thêm hung hãn kể từ khi nó bị thọt một chân cho đến chuyện giao phối kín đáo gần như là bí mật của loài voi. Hiện khu rừng còn một đàn voi khoảng chục con, nhưng ám ảnh nhất của người dân quanh vùng là con voi đực có một ngà cong vút lên và một ngà lại quặp xuống mà những người già gọi là “vừa chỉ thiên vừa chỉ địa”. Nó thường hay rời khỏi rừng ra nương rẫy người dân  phá phách, hễ gặp người thì tấn công. Người ta đồn rằng sở dĩ nó thù ghét con người vì đã chứng kiến cái chết của con voi cái mà nó yêu quý nhất do con người sát hại…
Dù rất chú tâm vào việc kể chuyện, Du cũng nhận ra trong đoàn có một người  đang nhìn mình chăm chú. Ông ta người dong dỏng cao, vẻ mặt khắc khổ nhưng nhìn kỹ sẽ nhận ra từ đó toát lên vẻ an nhiên. Đặc biệt ông có đôi mắt buồn và sâu, thi thoảng ánh lên tia nhìn lém lỉnh. Hình như lúc nãy người trưởng đoàn giới thiệu ông là một hoạ sĩ có làm thơ. Nghe thì biết vậy chứ Du không am hiểu về mấy lĩnh vực đó. Du cảm nhận rằng ông đang chú tâm vào chiếc bình toong anh mang bên hông chứ không phải lắng nghe những điều anh nói.
“Chú là người Miền Tây?”
Ông hỏi khi Du đưa tay để ông nắm làm điểm tựa bước qua những hòn đá cuội nằm rải rác ở khe suối cạn nằm vắt ngang đường đi. Và khi biết Du là đồng hương, nơi có biệt danh Xứ Dừa, ánh mắt ông bỗng loé lên thứ ánh sáng rất lạ, nó như ẩn chứa một tiếng reo vui, nhưng ngay sau đó là sự run rẩy bởi sự xúc động. Cả hai trạng thái ấy đều được kiềm nén kín đáo mà theo Du chỉ có ở những người quá trải đời và đầy bản lĩnh.
Khi thấy Du tháo chiếc bình toong từ sợi xăng-tuya, mở nắp rồi ngửa cổ tu một ngụm nước, ông cười:
“Chú bảo đi rừng cần gọn nhẹ, ai nấy chỉ một chai nước nhỏ trên tay, sao chú lại mang bi đông? Chắc của người thân? Tôi thấy trên đó có vết khắc!”
Du nói với ông, Du đã mang nó theo bên mình kể từ ngày rời quê, bắt đầu  những ngày tháng phiêu linh, chưa biết sẽ trôi dạt nơi đâu. Cũng ngày đó Du đã biết được thân phận mình, nó gắn liền với kỷ vật này.
Ông không hỏi thêm, dù cách trả lời của Du ẩn chứa nhiều bí ẩn. Du cám ơn sự im lặng thấu hiểu của ông, vì nếu ông muốn biết hơn thì anh cũng tìm cách tránh né. Ai lại đi bộc tuệch hết chuyện đời mình với một người chưa từng quen biết. Nhưng sự tò mò ở mức độ vừa phải ấy của ông đã gây cho Du nhiều thiện cảm. Tiếp xúc với biết bao du khách, chưa ai để ý việc Du cứ mang kè kè bên hông cái vật mang đậm dấu ấn của chiến tranh mà bây giờ đã thành vật lỗi thời. Có lẽ họ cho rằng Du là anh chàng lập dị.
*
**
“Bạch thầy, xin thầy cho phép con rời chùa”.
Du nói khi kính cẩn dâng lên sư thầy Huệ Nhẫn ly nước mát sau buổi thầy công phu xong. Chỉ câu nói ấy thôi mà nó dằn vặt Du suốt mấy tháng nay. Từ nhỏ đến giờ Du chỉ biết sư thầy là người thân thiết, dù vậy, có những chuyện Du không thể tâm sự với thầy. Không phải thầy là người nghiêm khắc, trái lại thầy nổi tiếng là người đức độ, khoan hoà được Phật tử trong vùng tôn kính nhưng làm sao Du có thể thổ lộ cùng thầy những điều thầm kín của thằng con trai đang độ tuổi trưởng thành? Hơn nữa Du không phải là chú tiểu dù sống ở chùa từ nhỏ. Với Du, sư thầy thuộc cõi giới khác, đã thoát vòng tục luỵ nên nếu nghe chuyện của Du thì đó là cái tội mà Du không thể tha thứ cho mình. Du quyết lòng trốn chạy khỏi mối tình với cô bạn học khi biết được gia thế của người yêu và thấm thía thân phận mồ côi của mình.
“Con đi đâu? Đã chọn được hướng cho đời mình rồi sao? – Sư thầy nói sau một lúc im lặng”.
“Bạch thầy, con… con… Mấy đứa bạn rủ con lên Miền Đông tìm việc”.
Thầy nhìn sâu vào mắt Du. Nhưng chỉ một thoáng, nhanh tựa một sát na. Và chỉ chừng ấy cũng đủ để thầy đọc được những xao động trong lòng Du.
“Không có sự trốn chạy nào mà không để lại gánh nặng hay tổn thương cho kẻ khác. Và cả với chính mình. Lòng con chỉ yên ổn một khi đã thấu triệt được lẽ đời để có sự quyết định”.
Lúc ấy Du chỉ biết cúi đầu im lặng để kiềm nén hai giọt nước mắt chực trào ra. Thầy đã soi thấu lòng Du chính bằng huệ nhãn của bậc chân tu.
Những ngày này gia đình Thư chuẩn bị đi Mỹ định cư theo diện H.O. Nhưng Thư không chịu đi. Ba Thư choáng váng trước quyết định của cô con gái trong lúc đã tìm được người sang lại cái nhà nghỉ - nguồn thu nhập chính của gia đình từ hơn chục năm nay. Những lý do Thư nêu ra không thuyết phục được ông nhưng có lẽ ông cũng lờ mờ cảm nhận được tâm trạng của con. Lúc đầu ông bị sốc, nhưng bình tâm lại ông thấy nên cảm thông. Chẳng phải ông cũng có người bạn thân cùng trong quân ngũ trước đây, cũng thuộc diện đi như ông mà quyết định ở lại đó sao? Hỏi gì anh cũng không nói. Thật ra thì anh ta có nói trong những dịp đến ở đây để thực hiện những bức tranh hay những bài thơ mà ý tưởng được hình thành và ấp ủ từ những chuyến lang bạt kỳ hồ. Anh nói, nhưng những điều anh nói không đủ sức thuyết phục ông dù tất cả đều hợp lý. Ví như anh còn mẹ già. Bản thân lại không bị ràng buộc bởi vợ con mà hầu hết người ra đi thuộc diện này là vì nghĩ đến tương lai của con cái trong lúc xã hội xem lý lịch như là tiêu chuẩn, là thước đo mọi giá trị con người… Với người khác thì những lý do đó có thể đúng nhưng với anh bạn có máu nghệ sĩ này ông nghĩ không chỉ như vậy. Nhưng còn điều gì khác nữa thì ông không thể nghĩ ra. Liệu có liên quan gì đến những bài thơ, những bức tranh mà anh đắm mình vào đó? Liệu có liên quan gì đến ngôi chùa mà những năm gần đây anh hay lui tới?
Những diễn biến ấy Du hoàn toàn không biết. Với Du, anh hiểu chính mình là nguyên nhân dẫn đến quyết định của Thư. Điều đó buộc Du phải nghiêm túc nhìn lại mình. Anh thật sự hoảng hốt khi nhìn về tương lai, trong lúc Thư chưa hiểu chút gì về hoàn cảnh của Du. Mà nghĩ cho cùng thì ngay cả Du đến nay vẫn mù mờ về thân phận của mình.
Khác với những đứa bé được các nhà chùa nuôi dưỡng, từ nhỏ đến giờ Du không phải cạo trọc đầu hay chừa ba vá, cũng không phải mặc áo tràng màu lam hoặc nâu sồng. Thầy nói thầy không muốn áp đặt cái điều vừa thiêng liêng vừa có tính quyết định cả một đời người lên một đứa trẻ. Con đường quy y Tam Bảo, hiến thân cho Phật pháp phải từ sự tự nguyện sau khi giác ngộ. Nếu vì sự bắt buộc do một sự ràng buộc nào đó hoặc là sự ham muốn nhất thời của chính đứa trẻ thì sau này chính nó sẽ gây những hệ lụy cho nhà chùa, ô danh Phật pháp. Thầy muốn Du có sự quyết định khi đã trưởng thành. Còn một lý do nữa. Du có mặt ở chùa Bửu Huệ này trong một hoàn cảnh đặc biệt, không giống với những đứa trẻ mồ côi khác.
Đó là buổi chiều một ngày gần cuối cuộc chiến. Những chiếc xe nhà binh chở đầy lính trận trở về sau một ngày ruồng bố. Bỗng một chiếc Jeep dừng trước cổng chùa. Từ trên xe, một người lính bước xuống. Xóc nhẹ chiếc ba lô trên lưng, anh ta bước vào cổng tam quan. Sư Huệ Nhẫn ngạc nhiên vì từ trước đến nay chưa ai đến chùa trong bộ quân phục. Càng ngạc nhiên hơn khi nhận ra chiếc ba lô trên lưng người lính hết sức bất thường. Một đứa bé khoảng hai tuổi lọt thỏm trong chiếc ba lô, hai chân thòng ra hai bên góc bởi vết khoét tưa tải, có lẽ được thực hiện bằng dao găm chứ không phải bằng kéo. Đứa bé ngoẹo đầu ngủ mê mệt trên lưng người lính, mặt mày nhem nhuốc bởi nước mắt lẫn với bùn đất và cả máu.
“Mong sư thầy cưu mang nó”.
“Mô Phật. Đứa bé là… sao với thí chủ?” - Huệ Nhẫn không tránh khỏi sự lúng túng.
“Không là gì, chỉ là một đứa trẻ mồ côi. Chắc nó không còn người thân nào trên đời!”.
Người lính - giờ thì Huệ Nhẫn mới để ý thấy ba bông mai trên cầu vai anh ta -  rời chùa không quên để lại chiếc bi đông còn đựng một ít sữa, nguội ngắt.
Sau ngày đó không thấy người ấy trở lại chùa dù mươi ngày, nửa tháng cũng có những chuyến xe chở lính hành quân về phía những ngôi làng ven biển, nơi có những con giồng cát cận kề khu rừng ngập mặn. Nơi đó là vùng giải phóng.
*
*     *
 Những chiếc GMC dừng ở mí giồng. Lính trên xe nhảy xuống tiến về xóm nhà nằm khuất dưới triền, sau rặng duối chạy dài trên nổng cát. Im ắng. Không  gian như đặc quánh. Theo lệnh chỉ huy, Tiểu đoàn chia làm ba mũi. Đại đội của tôi ở cánh trái. Từ vị trí này chúng tôi tiếp cận tới những căn nhà dưới mí triền gần hơn mà mức độ rủi ro cũng cao hơn. Bởi phía sau dãy nhà là khoảng láng trống chừng năm mươi thước tiếp giáp khu rừng lá dừa nước xen lẫn những cây dà, cây mắm. Chúng tôi có thể bị đối phương bắn tỉa trong lúc tiến về phía dãy nhà dù trước khi đổ quân đã có pháo 105 ly của Tiểu khu bắn “dọn bãi”. Vì vậy chúng tôi hết sức thận trọng, cảnh giới tuy rằng dãy nhà phía trước đã đổ nát. Nửa tháng  trước, cũng trong cuộc hành quân về vùng này, không có pháo hay trực thăng yểm trợ, hai binh sĩ của đại đội bạn tôi bị tử thương. Có thể đó chỉ là một nhóm du kích nhỏ còn ém lại ở mí rừng, nhưng cái khó là chúng tôi không nhìn thấy họ.
Gọi là xóm nhưng thật ra chỉ vỏn vẹn chừng mươi nóc nhà, hầu hết là mái lá, cột chôn. Một trái pháo rơi gần làm mấy căn nhà tốc mái, đổ sụp. Những chiếc lu chứa nước bể toác, nước sà lênh láng. Phía trước một đống đổ nát, xác người đàn ông nằm trên vũng máu, tay còn bấu chặt vành chiếc thúng đang lận. Cách đó vài  thước, người đàn bà cũng gục chết trên đống lưới đáy mà mình đang vá, một cánh tay đã bị miểng pháo phạt lìa. Bỗng có tiếng khóc oé ở góc trản xê bị mái nhà sập trùm phủ. Tôi thấy hai cánh tay bé xíu huơ huơ, cào cấu. Có lẽ nó bị ngất, vừa tỉnh lại. Tôi chưa kịp phản ứng thì Trung uý Nhã - Đại đội phó của tôi đứng gần đó chạy lại một tay nắm gộp hai tay đứa bé định kéo lên, một tay lăm lăm khẩu colt 45.
“Không bắn” – Tôi thét lên giật giọng.
Nhã sựng lại, ngạc nhiên vì tiếng thét gần như lạc giọng của tôi. Mắt anh ta ngầu đỏ:
“Để làm gì, Đại uý. Rồi nó cũng chết hoặc sẽ là Việt cộng!”
Tôi đến sát bên Nhã, gằn giọng, nhưng chỉ vừa đủ anh ta nghe:
“Anh bắn nó, thì tôi sẽ bắn anh!” – Tôi chỉ tay vào hai xác người – “Việt cộng gì mấy người này. Việt cộng gì đứa con nít!”
 Có lẽ thấy thái độ nổi điên bất thường của tôi, anh ta buông tay đứa bé, quay đi, vẻ hậm hực.
Thật ra lúc ấy trong tôi bỗng dậy lên thứ cảm xúc khó tả. Cho đến bây giờ tôi vẫn không lý giải được. Vì lý do nào trong xóm không còn ai? Tại sao cả gia đình này không lánh đi hay ẩn núp vô trản xê? Nhìn tư thế họ chết tôi có thể đoán được họ không hề biết chuyện lính đi ruồng hoặc cà nông bắn tới. Và đứa bé còn sống là một sự kỳ diệu. Nó không chết vì trái cà nông đã giết cả cha mẹ nó thì không lý do gì tôi không cứu nó. Nhưng tôi biết, nếu tôi bỏ nó lại, dù không ai hành động như Trung uý Nhã lúc nãy thì nó cũng không thể sống đến khi người trong xóm quay về.
Sự việc diễn ra sau đó thì như thầy chứng kiến… Khoảng ba tuần sau, tôi nhận được lệnh điều chuyển lên Vùng III Chiến thuật…
 Sư Huệ Nhẫn đưa những ngón tay gầy guộc sờ vào những nét khắc trên chiếc bi đông. Mắt thầy đã mờ, nhưng cảm giác từ những đầu ngón tay đã giúp thầy hình dung rõ hình ảnh bà mẹ gầy gò, gương mặt nhăn nheo, mắt đăm đắm nhìn về phía xa. Nhưng nếu nhìn kỹ thì đó chính là hình dạng của nước Việt được cách điệu bởi đường cong hình chữ S. Hơn hai mươi năm không được ngắm nhìn, kể từ cái đêm Huệ Nhẫn trao chiếc bi đông cho Du trước lúc Du rời chùa nhưng hình khắc ấy vẫn in sâu trong tâm trí của sư thầy.
“Bạch thầy, vậy là người lính ấy sau đó có đến đây?”
“Có đến nhưng không còn là lính mà là một người đàn ông bình thường. Đến sau hơn mười năm”.
“Sao con chưa từng gặp ông ấy hả thầy? Còn cái ngày định mệnh của đời con sao đến bây giờ con mới biết?” – Giọng Du nấc nghẹn dù cố kiềm nén.
Hơn hai mươi năm trước, khi quyết định rời chùa Du chỉ muốn chóng quên đi mối tình vô vọng. Nhưng khi bước chân đi lòng Du càng trĩu nặng bởi câu chuyện sư thầy vừa kể. Điều đó thật ra cũng không giúp Du biết được gốc gác gia đình mà chỉ là cái duyên do Du có mặt ở chùa Bửu Huệ này. Sư thầy cũng không biết gì hơn. Người biết được sự thật chính là người lính đã mang Du đến chùa ngày ấy. Nhưng người ấy lại là một bí ẩn khác, vì ông không để lại chút lai lịch nào. Và suốt khoảng thời gian dài sau đó như sư thầy nói, ông ta cũng không trở lại chùa. Chỉ có cái bi đông là vật duy nhất chứng minh mối liên hệ giữa Du với người đàn ông ấy. Thật ra  Du luôn mang nó bên mình vì nó là vật kỷ niệm, gắn liền với bi kịch cuộc đời anh hơn là hy vọng tìm lại được chủ nhân của nó. Vả chăng, chỉ khi nào người ấy nhận ra đó là chiếc bình toong mà ngày trước mình đã để lại cùng đứa bé ở ngôi chùa trong một chuyến hành quân. Nhưng đó chỉ là hy vọng mỏng manh. Biết đâu ông ta đã quên hoặc ông đã không còn trên đời. Biết đâu được, chiến tranh mà!
“Chính thầy cũng chỉ được nghe thí chủ ấy kể câu chuyện bi thảm về cuộc đời con mới ngày này năm ngoái”.
 “Năm rồi con cũng về đây mà thầy, sao con không gặp?”
Sư Huệ Nhẫn trao chiếc bi đông lại cho Du, tiếp tục lần chuỗi hạt.
“Mô Phật. Đó là ý muốn của thí chủ ấy. Mười năm sau ngày kết thúc cuộc chiến, người đàn ông ấy đã đến chùa trong dòng người hành hương vào ngày lễ Trung Nguơn. Sau lần đó cứ vài ba năm thí chủ ấy về đây một lần, kể cả lúc con đã rời chùa. Khoảng năm, sáu năm nay năm nào người cũng có mặt, đúng ngày này – ngày mà năm xưa người đã mang con đến với thầy. Chỉ năm nay người không đến, thầy cũng không rõ lý do. Cứ lần nào về chùa thấy được con, thí chủ ấy vui lắm. Có điều người xin thầy đừng hé lộ cho con biết. Chỉ khi nào lòng con thật sự muốn thì thầy hãy kể. Người nói có lẽ như vậy sẽ tốt hơn. Là kẻ tu hành, thầy không được phép tò mò những ngóc ngách đời tư của người đời, trừ khi người tự giãi bày”.
*
*     *
Du quyết định ghé lại nhà nghỉ của Thư trên thị trấn bởi sự thôi thúc không cưỡng được. Chưa lúc nào Du nhớ đến người họa sĩ già và thiết tha mong gặp được ông như lúc này. Chắp nối những điều sư thầy kể, Du có linh cảm người lính đã mang Du đến chùa trao cho sư thầy ngày ấy chính là người đàn ông mà Du từng gặp. Không hiểu sao cứ mỗi lần gặp ông, dù mỗi năm chỉ một lần vào buổi tối trong căn phòng bỏ trống ở nhà nghỉ của Thư là mỗi lần Du cảm thấy gần gũi hơn nhưng cũng cảm nhận ở ông như một khu rừng nguyên sinh mà Du chưa đủ sức khám phá. Thân thiện, cuốn hút nhưng cũng thật thâm trầm, kín kẽ. Kể từ cái đêm Thư giới thiệu Du với ông, năm nào về hai người cũng ở chung phòng. Thư hỏi: “Du chịu vậy không?” “Du thì thích nhưng cũng có chút thắc mắc. Có phải ý của ông ấy?” Thư không trả lời mà chỉ mỉm cười. Có điều Du luôn cảm thấy lạ là dù nghỉ cùng phòng để sáng hôm sau đi về chùa Bửu Huệ nhưng chưa bao giờ hai người đi chung nhau. Ông thường đi sớm hơn, lúc Du còn đang ngủ. Cũng có khi Du dậy sớm, đi trước; ông thì vẫn nhẩn nha uống trà. Và chưa lần nào Du gặp ông ở chùa. Có lẽ do khách hành hương vào ngày này rất đông, vả lại Du cũng không quan tâm vì tôn trọng sự riêng tư của người khác.
Nhiều lúc Du bắt gặp ánh mắt ông nhìn Du như muốn bật thốt một điều gì nhưng rồi cố kiềm nén lại. Giờ nghĩ lại Du mới tự trách mình. Du đã quá thờ ơ. Thật ra trong lòng Du chưa một lần nghĩ về người đàn ông đã giành lấy sự sống cho mình ngày ấy đến mức khắc khoải để kiếm tìm như lúc này. Chiến tranh. Trong ký ức tuổi thơ của Du không một hình ảnh nào lưu lại mà chỉ là cái ấn tượng nặng nề bởi mặc cảm mình là đứa trẻ mồ côi. Không hề biết gốc gác và không có ai thân thích ngoài sư thầy Huệ Nhẫn. Chỉ đến khi nghe sư thầy kể thì Du mới cảm nhận nỗi bất hạnh lớn nhất của đời mình là do chiến tranh mang lại. Du không hiểu người lính ấy là ai, người đã gây ra cái chết của ba má Du hay là người cứu mạng Du. Là  kẻ thù hay ân nhân? Hay chính ông cũng là nạn nhân của chiến tranh như Du nhưng ở một bình diện khác mà Du chưa đủ nhận thức để thấu hiểu.
Sư Huệ Nhẫn kể với Du rằng trong một lần về chùa, ông ngỏ ý xin được giữ chiếc ba lô. Có lẽ từ lâu ông đã thiết tha mong chờ cái ngày Du thật sự muốn tìm và nhận ra ông. Bỗng nhiên câu nói của người hoạ sĩ già lúc ở rừng miền Đông vụt đến trong Du: “Chú bảo đi rừng cần gọn nhẹ, ai nấy chỉ một chai nước nhỏ trên tay, sao chú lại mang bi đông? Chắc của người thân? Tôi thấy trên đó có vết khắc!” Bây giờ Du mới nhận ra sự chủ động gợi mở ấy của ông ngày nào đã không được Du đón nhận. Thái độ kín kẽ của Du không đơn thuần là không muốn khơi lại nỗi bất hạnh của đời mình với người xa lạ mà còn vì lúc ấy trong Du chưa có sự khao khát kiếm tìm con người đã mang Du đến chùa trong chiếc ba lô. Đơn giản chỉ vì Du không tin ông ta còn sống. Hoặc giả, nếu còn thì ông cũng chẳng hề lưu tâm chuyện cũ. Nếu không, sao từng ấy năm ông bặt vô âm tín, lúc Du còn kề cận sư thầy.
Bây giờ Du mới biết ngần ấy năm ông luôn dõi theo từng bước chân Du trong cuộc sống. Dõi theo với nỗi niềm đau đáu mà thầm lặng. Biết vậy, nhưng trong những ngày này Du luôn có cảm giác chông chênh. Không hiểu sao giữa nỗi mong chờ được gặp lại người họa sĩ già mà lúc này Du tin chính là chủ nhân của chiếc bi đông anh luôn mang bên mình suốt mấy mươi năm, thì từ sâu thẳm trong lòng Du lại có một tiếng nói khác. Nó lởn vởn, mơ hồ nhưng đủ sức dằn vặt anh.Gặp lại, nhận ra ông ta để làm gì? Cho dù ông là người đã cứu mạng mình nhưng cũng chính ông đã đứng trong hàng ngũ biến mình thành kẻ mồ côi. Thà đường ai nấy đi. Mình cứ sống như từ bao nhiêu năm nay từng sống.
“Nghĩ là vậy nhưng nỗi nhớ chú ấy cứ càng lúc càng dâng lên. Nhớ như nhớ người thân. Du cũng không lý giải được”.– Du đã trải lòng với Thư. Điều mà từ trước đến nay chưa hề có, ngay cả chuyện Du lặng lẽ ra đi không một lời từ giã Thư ngày trước.
Cuối chiều. Mưa giăng kín mặt sông. Rừng dừa xanh thẩm bên kia bờ sông bị phủ mờ rồi phút chốc chìm khuất trong màn nước. Thư bước đến khép cánh cửa sổ bị gió thốc vào những hạt mưa bụi.
“Du cứ chạy trốn hoài vậy sao? Hơn nửa đời người hết rồi!” – Thư nói sau một lúc im lặng khi trở lại ngồi đối diện với Du.
Du giật thốt. “Chạy trốn?” Câu hỏi đã chạm trúng vết thương từ lâu Du cố giấu. Sao Thư nói tựa như sư thầy ngày trước: “Không có sự trốn chạy nào mà không để lại gánh nặng hay tổn thương cho kẻ khác. Và cả với chính mình…”. Hơn hai mươi năm qua câu nói ấy cứ cứa vào lòng Du, càng lúc càng sâu. Trong những đêm mưa rừng, tiếng thác thét gào vang động cũng là lúc lòng Du ầm ào dậy sóng. Hình ảnh Thư choáng ngợp cả thần trí, Du vật vã, giằng xé bởi quyết định của mình ngày đó. Tưởng chừng như Du có thể rời khỏi rừng ngay trong đêm để trở về tìm Thư, dù chỉ chút hy vọng mong manh. Nhưng rồi, sáng hôm sau bình tâm lại Du cảm thấy an lòng. Có lẽ giờ này Thư đã có một cuộc sống khác, hạnh phúc và thành đạt nơi đất khách. Du cầu mong như vậy. Và cứ đinh ninh như vậy. Chỉ đến khi trở về sau hơn hai mươi năm trên một chuyến xe muộn vì sự cố hy hữu gặp phải trên đường, bước chân Du như kẻ vô thức rẽ vào nhà nghỉ của ba Thư ngày trước mà chắc giờ đây đã đổi chủ. Trong Du không hề có ý niệm sẽ gặp lại Thư. Vậy mà…
  “Du cứ chạy trốn hoài vậy sao? Hơn nửa đời người hết rồi!”. Thư đang nói về mối liên hệ giữa mình với người họa sĩ già đầy bí ẩn hay nói về chuyện mình với Thư? Hay điều Thư nói hàm ý cả hai? Những câu tự vấn ấy cứ lởn vởn trong Du. Cầm chìa khóa phòng Thư đưa, Du đi liêu xiêu như kẻ mộng du dọc hành lang về cuối dãy phòng. Nơi ấy có căn phòng luôn đóng kín, dù có những hôm khách đến thuê nhiều, Thư đành xin lỗi để khách tìm nhà nghỉ khác chứ tuyệt nhiên không cho khách ở căn phòng ấy. Đây là lần đầu tiên Du cầm chiếc chìa khóa để mở phòng này nhưng cũng từ bây giờ Du sẽ là người giữ nó. Thư nói đó là chiếc chìa khóa mà chú ấy đã giữ từ mấy chục năm nay. Ba Thư đã trao cho chú khi chuẩn bị xuất cảnh. Chiếc còn lại thì Thư đang giữ. Năm ngoái, từ chùa Bửu Huệ về chú ghé lại ở thêm mấy ngày nữa, điều hiếm khi xảy ra từ ngày ba Thư giao nhà nghỉ cho Thư quản lý. Chú nói:
“Cháu hãy đưa cho cậu ấy. Còn đưa vào lúc nào và cậu ta có vui vẻ nhận giữ  để mở cửa phòng đó không là tùy ở cháu và cậu ấy”.
“Vậy chú không về đây nữa sao?” – Thư hỏi.
Ông mỉm cười đôn hậu nhưng mắt thì nheo lại vẻ chế giễu:
“Về chứ! Nếu muốn thì sẽ gặp lại nhau mà”.
Mưa đã nhẹ hạt. Một ánh chớp lóe sáng rồi sau đó là tiếng sấm rền từ rất xa, đúng vào lúc Du tra chiếc chìa vào ổ khóa căn phòng.
                                                                                                             

                                                                                                                 NT