Truyện ký của NGUYÊN TÙNG
Không ai biết
ông lão tên gì, ở đâu. Người ta chỉ biết cách đây vài tháng nhà nước Pháp có
đưa từ Côn Đảo về quản thúc ở thị xã một người tù chính trị mù cả hai mắt. Và
họ đồn rằng chính bọn Pháp đã chích thuốc cho ông lão mù lòa để không còn làm
cộng sản được nữa. Cứ mỗi sáng ông lão ôm con chó nhỏ dò gậy đi ra chợ, có hôm
thì có chú bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi dắt. Ông đi loanh quanh một lát rồi
mua vài cái bánh bò cho con chó ăn. Ông ngồi xuống vuốt ve, nựng nịu nó giống
như một ông già nựng cháu. Đến lúc về thì con chó chạy lóc thóc ở đằng trước
dẫn đường ông lão đi. Lâu ngày thành quen, người ta cứ gọi ông lão là ông Vân
Tiên.
Ông lão ở trọ một căn phố của
bà Đội Chấn, trong khu cù lao Bình Dương. Gọi là phố nhưng đó chỉ là những căn
nhà lá nhỏ hẹp được cất thành dãy. Đầu dãy phố là căn nhà tường nguy nga của
người chủ. Trước cửa có treo chiếc lồng nhốt một con nhồng đã biết nói để làm
kiểng và giữ nhà. Cứ mỗi lần thấy ông lão dò gậy đi về là nó cất tiếng chào thánh
thót: Ông Bảy... ông Bảy...
Gần sáu năm rồi ông lão mới
trở về căn phố này. Sáu năm, căn phố vẫn chưa có người lạ đến mướn, cũng là dịp
may hiếm có đối với người tù lưu đày biệt xứ như ông. Có lẽ vì nó quá tồi tàn
và hẻo lánh. Nhưng đối với ông thì nó trở nên thân thuộc. Ông vẫn nhớ và thầm
cám ơn người hàng xóm kéo xe. Hôm về, ông từ trại việc(1) của bọn Pháp đi ra, chú ấy thấy đã reo to
mừng rỡ, bất chấp bọn lính kín(2) và tụi quan Tây.
- Trời, ông Bảy! Ông mới về
hả ông Bảy? Ông lên xe đi, tôi kéo đưa ông về nhà.
Không đợi ông lão trả lời,
chú ấy vội đến đỡ ông lên xe rồi nắm hai càng xe kéo chạy một mạch. Đến lúc
người kéo xe đỡ ông xuống, và ông nghe tiếng nói thánh thót kéo dài ra: Ông
Bảy... ông Bảy... thì bất giác hai giọt nước mắt từ trong hố mắt sâu thẳm
của ông lăn dài xuống má. Ông đứng lặng. Trời ơi, con nhồng, nó vẫn còn nhớ
ông. Nhưng bây giờ thì ông vĩnh viễn không thấy được gì nữa. Lần này về ông sẽ
không còn thấy được mặt vợ, mặt con. Thằng Hoạch bây giờ chiến đấu ở đâu? Vợ
con nó có được yên thân với bọn Cả Đậu, Hương giáo Hoài? Còn thằng Xèo, thằng
Xình nay bao lớn? Và những đồng chí của ông: Đồng chí Phạm Hữu Di, đồng chí
Mười Mắn, đồng chí Sáu Đính... Bây giờ các đồng chí có còn bình yên? Lần về này
tôi không còn thấy được các đồng chí nữa nhưng lòng tôi vẫn như xưa. Vẫn cùng
một lòng như các đồng chí. Thằng giặc có thể làm bóng tối bao trùm trước mắt
tôi nhưng làm sao chúng có thể làm u tối được lòng tôi. Trái lại, chúng càng
làm tôi thấy rõ bản chất dã man của chúng.
Về chuyện ông lão mù phải kể
từ khi ông bị tù lần thứ nhất.
Đó là vào năm 1932.
Sau đêm ông lão diễn thuyết ở
Gò Trạm, bọn Pháp bắt đầu theo dõi ông. Chúng cho lính kín từ Bến Tre xuống nhà
việc chợ Phước Mỹ kết hợp với tên Cả Sông bắt ông và ông Đỗ Quang Tấn còng hai
tay rồi chở bằng ca-nô về Bến Tre. Một tháng sau, chúng đày ông Đỗ Quang Tấn ra
Côn Đảo, còn ông Nguyễn Văn Giai - tên ông lão - thì lên Tà Lài.
Ở đây ông lão đã nếm đủ mùi
khổ nhục của nhà tù thực dân. Chúng nhốt những người tù chính trị vào phòng tối
bảy ngày không cho tắm. Ông xách động anh em tù nhân đấu tranh. Bọn cai quản
bằng lòng cho anh em tắm nhưng chúng lại dẫn ra một vũng nước đầy rẫy phân
người và bắt buộc mọi người phải cởi quần áo nhảy xuống. Sau đó, người nào cũng
ngứa rô, ghẻ nổi đầy mình. Ăn thì chúng cho ăn toàn khô mục đầy giòi bọ với mắm
ruốc đen hôi. Mỗi ngày chúng lại bắt tù nhân học cách tố Cộng. Ông Giai vận
động tù nhân chống lại, không học. Chúng đã đánh ông tàn nhẫn, bắt trói ông vào
gốc cây dừa phơi nắng rồi lại nhốt chuồng cọp. Ông vẫn đấu tranh không đi làm.
Bọn cai ngục tống ông nằm hầm đất mà chúng gọi là “hạ thổ” để ông không được
thấy mặt trời. Ông bệnh đòi đi nhà thương. Chúng cho đi nhưng với âm mưu sâu
độc là cho bác sĩ chích thuốc để khi thả về ông bị mù, “không còn làm cộng sản
được nữa”.
Lần ấy được thả về đôi mắt
ông đã mờ nhiều. Ông về thẳng ấp Phước Hùng, xã Phước Long (nay là ấp 4, xã
Thạnh Phú Đông) bắt liên lạc với tổ chức. Để che mắt bọn lính kín và tề xã, ông
tổ chức nấu rượu đem bán dạo. Số người mà ông đem rượu đến bán hầu hết là những
nông dân nghèo và quần chúng tốt. Qua đó ông vận động được một số gia đình quần
chúng che giấu cán bộ ở các xã khác đến
hoạt động. Ông Giai chọn điểm họp cán bộ ở bờ Dầu. Đó là một cái bờ mồ côi sầm
uất. Ở đó có cái miễu Bà núp dưới gốc cây gừa lớn có tàn che phủ. Đây là điểm
họp thật an toàn và ít người qua lại. Lúc ấy bà con đồn rằng ngôi miễu rất linh
thiêng, bà thường “giáng” về, nên ai nấy cũng sợ. Bọn tề xã cũng không dám léo
hánh tới. Ba tháng sau bọn Pháp đánh hơi được nên cho bọn mật thám và tề xã
theo dõi ráo riết. Cơ sở phải chuyển xuống Tân Xuân. Thời gian này ông Giai
thường xuyên đi đến xã Lộc Thuận để gặp các đồng chí Trọng Già, Bảy Lúa; đến
Châu Bình gặp đồng chí Bộ Hãnh; hoặc đến
Tân Xuân để gặp đồng chí Mười Mắn nắm tình hình và bàn kế hoạch hoạt động.
Đường sá lúc bấy giờ thật khó khăn, hiểm trở. Đâu đâu cũng đầy rẫy bọn lính kín
và bọn tề xã. Có lúc ông cải trang là một lái buôn chở một ghe chuối cây qua
Lộc Thuận bán. Rồi việc bất ngờ đã xảy ra...
Hôm ấy, từ Tân Xuân về khoảng
bảy giờ tối, vừa bước chân vô nhà thì ông nghe tiếng của Hương Cả Đậu nói lớn:
- Bắt được tên cộng sản chính
thức rồi!
Lù lù trước mắt ông là tên Cả
Đậu mặc bộ đồ võ áo bỏ trong quần sọc, đầu đội kết bi. Rồi như những tên chó
sói săn mồi, tên Hương giáo Hoài và bọn tay sai ra sức lục soát. Như một sự sắp
đặt cố tình từ trước, chúng xăm xăm đến chiếc máng xối mang xuống nào là truyền
đơn, tài liệu, cờ Đảng... Cả Đậu xấn tới đánh vào mặt ông:
- Đ.M. mày là thằng cộng sản.
Tụi bây còng lại.
Sau này ông biết được sự việc
xảy ra hôm ấy là do tên Ba Hùng phản bội. Ba Hùng là một nông dân trước có cảm
tình với Đảng đồng thời cũng là họ hàng thân thuộc của ông. Lợi dụng lúc ông đi
vắng, Ba Hùng đã đánh cắp một bó tài liệu, truyền đơn cùng cờ Đảng đem giấu
trên chiếc máng xối của nhà ông rồi thông đồng với bọn mật thám, lính kín, tề
xã. Bọn này không dám ra tay mà kéo đến báo với tên Hương Cả Đậu ở Hưng Thạnh.
Cả Đậu là tên tay sai đắc lực của Pháp, khét tiếng là cường hào ác bá. Hắn nổi
tiếng cả huyện là một tên đánh đập nông dân tàn nhẫn, hãm hiếp phụ nữ, phá
trinh gái tơ và trò tiêu khiển hả hê nhất của hắn là đốt nhà quần chúng nếu
biết có người làm cộng sản.
Ông Giai bị giam tại khám lớn
Sài Gòn. Chúng nó tuyên án cấm cố ông, đày đi Côn Đảo cho bỏ xương ngoài đó.
Tuyên án vậy nhưng ba tháng
sáu chúng lại đưa ông về quản thúc ở thị xã Bến Tre. Có lẽ vì chúng thấy ông
sức khỏe đã mòn và đôi mắt gần như mù hẳn nên nghĩ rằng có thả ông về cũng
không làm gì được nữa. Chúng buộc ông chỉ được đi đứng trong phạm vị nội ô và
mỗi tháng hai lần phải đến trại việc trình diện vào ngày 15 và 30. Ông mướn một
căn phố của bà Đội Chấn rồi nhắn vợ con lên để tìm hiểu tình hình. Ở đây ông
vẫn liên lạc với tổ chức. Hằng ngày ông lân la qua các ngõ phố, đến nhà những
người bạn tù để hội họp, bàn kế hoạch đấu tranh. Vào một đêm, bọn Pháp đến căn
phố bắt ông rồi đày ra Côn Đảo.
*
* *
Ông lão ngồi bất động. Giọng
bà lão kể nghe uất nghẹn. Dù cố kìm lòng, ông lão vẫn để rơi những giọt nước
mắt. Bên ngoài bóng tối vẫn còn bao trùm, thỉnh thoảng vọng vào căn phòng nhỏ
hẹp tiếng lọc cọc của một vài chiếc xe kéo. Con chó nằm khoanh tròn dưới chân
ông lão, đầu nó ghếch lên chiếc guốc. Nghe tiếng lọc cọc bên ngoài nó chạy đến
cửa nghe ngóng, rồi như cảm thấy không có gì đe dọa người chủ nó chạy lại vẫy
đuôi liếm liếm vào chân ông lão.
Giọng nói của người vợ như
từng mũi kim xoáy vào lòng ông. Nỗi khổ nhục của vợ con ở quê nhà ông nghe đau
hơn chính thân xác ông bị những đòn tra tấn dã man của thằng cò Ríp-pi ngoài
Côn Đảo.
... Lúc ông bị giam ở khám
lớn Sài Gòn, mấy lần bà lên thăm, chúng không cho thấy mặt. Qua tháng thứ hai, bà làm đơn được một tề xã là đối tượng
cảm tình Đảng do ông lão xây dựng, chứng nhận cho thăm gặp mặt. Vợ chồng gặp
nhau chỉ nói chuyện được ba phút. Thân hình ông tiều tụy vì bị đánh nhiều nhưng
giọng nói vẫn rắn rỏi:
- Bà về nói lại với anh em là
lòng tôi không sao quên được. Bà ráng nối lại khi tôi không còn ở nhà.
- Tôi vẫn nuôi con chờ ông
về.
Chỉ nói được bấy nhiêu thì
hai tên lính gác hăm dọa và đuổi bà ra ngoài. Về nhà bà báo lại lời ông với
đồng chí Phạm Hữu Di - Bí thư chi bộ lúc bấy giờ. Đồng chí Di trao nhiệm vụ cho
bà đi xuống các cụm điểm báo lại chủ trương của trên. Chuyến đi có nhiều tài
liệu quan trọng nên bà phải nghi trang thật cẩn thận. Bà xếp ngay thẳng, gọn
nhỏ, bó lại bằng nhiều lớp vải mỏng rồi bôi son tàu để vào thân mình cột lại,
giống như người đàn bà đang kỳ kinh nguyệt. Bà xách giỏ trầu, ôm trái bầu dài
giả làm người từ ấp này sang ấp khác. Thật đúng như dự đoán của bà, khi đi đến
nhà việc xã Châu Bình thì chúng kêu lại xét hỏi. Người phụ nữ dẫn bà vào phòng
khám xét. Chuyến đầu tiên xuống Tân Xuân ấy bà đã thành công.
Bốn hôm sau, không biết tin
từ đâu, tên Hương Cả Đậu biết bà đi hoạt động thay cho chồng. Lúc năm giờ chiều
bọn chúng kéo đến hùng hổ đuổi mẹ con bà ra rồi châm lửa đốt nhà.
- Thương tình hai con mày còn
nhỏ nên tao không bắt chứ tội làm cộng sản như mày thì ở tù rục xương.
Ngọn lửa bốc cao, tiếng cột
kèo nổ lốp bốp. Cả Đậu hét ra lệnh cho bọn tay sai:
- Tất cả đồ đạc của gia đình
cộng sản này đều quăng vô lửa, không chừa món gì cả.
Ba mẹ con dắt díu nhau đến
nhà người hàng xóm ở đậu. Vì sợ liên lụy đến bà con, bà lại dẫn hai con qua ấp
Hưng Phú B ở nhờ nhà người em ruột.
Tháng mười một, mùa lúa chín.
Hàng ngày có mấy chú nông dân gặt lúa cho điền chủ. Hai con bà mang thúng đi
mót. Từ sáng sớm hai anh em xuống ruộng mót từng bông lúa rơi rụng đến chiều
tối được một thúng, bọn điền chủ ra quát tháo, trút thúng lấy lại không chừa
một hột. Mặc hai thằng bé khóc lóc van xin, hắn vẫn nhẫn tâm không thương xót.
Hai đứa bé đành xách thúng thui thủi đi về. Cả ba mẹ con ôm nhau khóc...
- Hôm tôi lên mới hay ông bị
bắt đưa đi ngoài Côn Nôn. Chị Đội nói là tụi nó bắt ông hồi hôm. Ruột gan tôi
chết điếng. Nghĩ mà tội nghiệp con nhồng, thấy tôi nó kêu “bà Bảy, bà Bảy”
lăn líu. Tôi ở lại trên này ba ngày để thu vén đồ đạc và trả tiền nhà cho chị
Đội. Mình đã rầu mà nghe con nhồng rao hàng càng rầu hơn. Sáng trưa chiều lúc
nào cũng nghe nó rao: Ai ăn nem nướng hôn... Ai mua tép hôn. Tôi khóc
hết nước mắt.
- Hai đứa nhỏ không được học
hành gì sao?
- Mấy lần tôi đưa nó vô
trường, thầy giáo không nhận. Còn Cả Đậu, còn bọn Tây dòm ngó họ đời nào dám
dạy con cộng sản.
Nhắc đến Cả Đậu là bao nhiêu
nỗi uất hận cứ dâng ngập lòng bà. Ông lão an ủi bà bằng cách nói của một nhà
Nho mà mãi sau này bà vẫn thường nhắc lại với con:
Đức thắng tài như quân tử.
Tài thắng đức như tiểu nhân.
Rồi để nhắc nhở bà đã là
người cách mạng, dám đấu tranh cho nền độc lập nước nhà thì dù trong hoàn cảnh
nào cũng không hề khuất phục, ông lão kể cho bà nghe tấm gương dũng cảm của
đồng chí Tôn Đức Thắng - một đồng chí cùng chi bộ với ông ở ngoài Côn Đảo. Hôm
đó máy đèn bị hư, thằng sếp Tây kêu gọi tù chính trị phạm ra sửa. Nếu sửa được
nó sẽ đáp ứng ba yêu sách của tù nhân về ăn uống, đi lại... Lúc họp chi bộ,
đồng chí Tôn Đức Thắng phát biểu là với khả năng mình có thể sửa được, nhưng nếu
chi bộ đồng ý bằng không thì thôi. Thời gian này để phản đối chính sách hà khắc
của bọn thực dân đối với tù chính trị phạm, các đồng chí đã đấu tranh bãi thực,
nhân dịp này chúng giải quyết được yêu sách anh đưa ra cũng là thắng lợi... Khi
biểu quyết chỉ có 1/3 chi bộ đồng ý. Vậy là không ai đứng ra sửa máy cả. Sau
cùng thằng sếp Tây gọi đích danh đồng chí Tôn Đức Thắng. Đồng chí nói là đồng
chí không biết sửa. Nó đánh đồng chí tàn nhẫn, chiếc mũ bêrê màu xanh biến
thành màu đỏ vì nhuộm máu. Cả chi bộ ào ra bảo vệ đồng chí, nhận đòn thay, biến
thành trận ấu đả đẫm máu với bọn sếp Tây.
*
* *
- Rip-pi nay đi trại việc nghen con!
Ông lão vỗ vỗ đầu con chó âu
yếm. Nó ngoắc ngoắc đuôi liếm tay ông lão. Ông Vân Tiên cột sợi dây dài vào
vòng cổ bằng da của con chó. Nó chạy lóc thóc ở phía trước dẫn đường ông lão
đi.
Đó là một con chó Vện, nhỏ
con nhưng tinh khôn. Khi ở Côn Đảo về, thấy đôi mắt ông đã mù, bà Sáu Nghệ -
một bạn tù cũng bị quản thúc ở thị xã đã cho ông. Ông lão liền đặt tên cho nó
là Rip-pi, tên của thằng cò Tây ngoài Côn Đảo khét tiếng dã man. Tù nhân nào
vừa mới đặt chân lên cái xứ tù này thì phải nhận đòn của nó trước tiên. Có
người phải mang bệnh suốt đời vì bàn tay của nó. Khi con người mà lòng dạ quá
dã man thì không khác gì loài thú. Ý nghĩ ấy đã hình thành và ông dứt khoát lấy
tên
Rip-pi - một con người lòng thú - đặt cho con chó.
Rip-pi - một con người lòng thú - đặt cho con chó.
Nhưng thật trớ trêu. Con chó
ông lão nuôi lại có những biểu hiện của con người. Nó có một trí khôn kỳ diệu.
Nơi nào nó đến một lần, lần sau ông lão chỉ cần nói một tiếng là nó dẫn ông đến
đúng ngay. Nó hiểu hết mọi ngõ ngách của nội ô thị xã, nhất là nhà các đồng chí
bị quản thúc như: Hai Kiệt, Tư Kim, Tám Thôi, Sáu Nết... Không bao giờ nó dẫn
ông đến lầm nhà của một đồng chí nào. Mỗi khi gặp cầu nó dừng lại cách khoảng
mười mét, quay ngang ngăn ông lão lại rồi lấy thân mình cọ cọ vào chân ông. Có
đồng chí muốn thử, lúc gặp ông Vân Tiên liền ôm chặt hoặc tỏ ý hành hung nó
liền gầm gừ, nhảy xổ tới, phản ứng. Đến khi ông lão lên tiếng nó mới thôi.
Rip-pi dẫn ông lão đến trước
trại việc. Lúc ấy là 8 giờ sáng ngày 15, ngày trình diện lần đầu trong tháng.
Tên cò Ca-re đã ngồi vào bàn. Ông Vân Tiên mở dây con chó, đưa cuốn sổ cho nó
cắn chạy vào trình. Ca-re dằn lấy cuốn sổ từ miệng con chó, mặt đỏ gay vì tức
giận. Cũng vẫn tên cộng sản này khi dễ quan Tây. Hắn đứng dậy bước ra khỏi bàn
cho lính gọi ông Vân Tiên vào.
- Tôi mù lòa không có người
dẫn đường nên nhờ con chó này đến trình diện quan Cò.
Ca-re sấn tới nắm ngực áo ông
lão đánh. Ông lão huơ tay ngang nắm trúng bâu áo tên Ca-re, cuộc ấu đả diễn ra
tại trại việc. Người lính gác cổng tới can, rồi nắm tay ông lão dẫn ra ngoài.
Con chó chạy lại liếm tay chân ông lão mừng rỡ. Trước mắt ông bây giờ lại hiện
đến bao nhiêu khuôn mặt của con người lòng dạ sói lang: Rip-pi, Cả Đậu, Giáo
Hoài, Ba Hùng...
- Con chó khôn quá - Người
lính gác đã cột dây vào cổ con chó dùm ông lão rồi nói.
- Phải, nó là con vật biết
nghĩa!
Rip-pi chạy lóc thóc ở phía
trước dẫn ông lão ra khỏi cửa trại việc của bọn Tây.
N.T
(1) Còn gọi là nhà việc
(2) Mật thám