Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

VĂN XUÔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: THỪA VÀ THIẾU

(Tham luận Bàn tròn Văn xuôi ĐBSCL)

NGUYÊN TÙNG

Lời đầu tiên cho phép tôi cảm ơn Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Liên lạc Nhà văn Đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức cuộc hội thảo đầy ý nghĩa này để chúng tôi, những tác giả văn xuôi có dịp ngồi lại, nói lên những suy nghĩ của mình về thực trạng văn học hôm nay, nhất là mảng văn xuôi hư cấu ở một khu vực trẻ nhất trong tiến trình lịch sử của đất nước.
Có một điều cần khẳng định ngay rằng văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay vẫn là sự tiếp nối dòng văn xuôi yêu nước của thế hệ các nhà văn  trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Họ đã góp phần tạo dựng được diện mạo chững chạc của nền văn chương Nam bộ hiện đại hòa vào dòng chảy của nền văn học cách mạng Việt Nam. Và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng những nhà văn này vẫn không ngừng tự hoàn thiện mình trong cách nhìn về chiến tranh. Họ vẫn là lực lượng nòng cốt, là hạt nhân tập hợp và dẫn dắt đội ngũ tác giả trẻ hình thành sau ngày giải phóng đến nay. Ở phạm vi bài này tôi xin giới hạn suy nghĩ của mình về mảng văn xuôi hư cấu của các tác giả xuất hiện sau 1975.

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

CHÚT HƯƠNG ĐỜI CÒN ĐỌNG

                                                                      NGUYÊN TÙNG
                         (Ghi theo lời kể của nhà thơ LÊ HÀ)

Cha ngã xuống buổi chiều Yên Bái
Hơi ông tàn trên một nẻo Cần Vương
Mùa thu sang... con cháu lên đường

Đó là những câu thơ đầu tiên của tôi khi tham gia vào Đoàn Văn hóa kháng chiến ở tỉnh Bến Tre. Nó cũng đánh dấu sự chuyển hướng của thơ tôi, từ thơ tình yêu sang trữ tình cách mạng. Nói thì nghe nhẹ nhàng vậy chứ lúc ấy thật không dễ dàng gì đối với anh chàng làm thơ trẻ mang tên Lê Nguyên là tôi, mới 23 tuổi, dù tâm trạng hăm hở đến với cách mạng. Sinh ra ở Tuy Hòa, học sư phạm ở Sài Gòn ra trường về dạy ở Giang Thành - Hà Tiên năm 1943 rồi tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (8-1945) tại Thị xã Hà Tiên. Đến năm 1947 khu IX có tổ chức một đoàn thanh niên trong đó có tôi về học trường Lục quân ở Quảng Ngãi do đồng chí Vũ Đức - Tư lệnh Quân khu IX dẫn đầu. Đoàn đi đến Bến Tre thì gặp ông Trương Văn Giàu - Khu bộ phó Khu VIII. Ông Giàu thấy đoàn đi ba bốn chục người nặng nề quá mà đường thì xa, phương tiện khó khăn nên bàn với Tư lệnh Khu IX nên để anh em ở lại tham gia vào Ban Tuyên huấn tỉnh Bến Tre. Vậy là chúng tôi được ở lại tại trường Đảng, đóng tại Cồn Ốc (nay là xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm). Chỉ còn bốn người đi Quảng Ngãi. Hiệu trưởng trường Đảng lúc ấy là ông Trần Trường Sinh - người hiệu trưởng trường Đảng đầu tiên ở Bến Tre mà sau này Tỉnh ủy đã quyết định lấy tên ông đặt cho tên trường.

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CƠN HẠN

NGUYÊN TÙNG



Người đàn bà đi trong cơn hạn cuộc đời
Gió thốc                                                  
nắng tràn                                 
và mắt người seo sắt
Lời hứa xưa dành cho ngày gặp mặt
Để ánh nhìn xói lở mãi triền sông
Bìm bịp kêu                             
bìm bịp kêu                   
con nước vẫn ròng
Bỏ xa bãi                                 
xa dần thời hò hẹn

ÔNG VÂN TIÊN

Truyện ký của NGUYÊN TÙNG
        Không ai biết ông lão tên gì, ở đâu. Người ta chỉ biết cách đây vài tháng nhà nước Pháp có đưa từ Côn Đảo về quản thúc ở thị xã một người tù chính trị mù cả hai mắt. Và họ đồn rằng chính bọn Pháp đã chích thuốc cho ông lão mù lòa để không còn làm cộng sản được nữa. Cứ mỗi sáng ông lão ôm con chó nhỏ dò gậy đi ra chợ, có hôm thì có chú bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi dắt. Ông đi loanh quanh một lát rồi mua vài cái bánh bò cho con chó ăn. Ông ngồi xuống vuốt ve, nựng nịu nó giống như một ông già nựng cháu. Đến lúc về thì con chó chạy lóc thóc ở đằng trước dẫn đường ông lão đi. Lâu ngày thành quen, người ta cứ gọi ông lão là ông Vân Tiên.
Ông lão ở trọ một căn phố của bà Đội Chấn, trong khu cù lao Bình Dương. Gọi là phố nhưng đó chỉ là những căn nhà lá nhỏ hẹp được cất thành dãy. Đầu dãy phố là căn nhà tường nguy nga của người chủ. Trước cửa có treo chiếc lồng nhốt một con nhồng đã biết nói để làm kiểng và giữ nhà. Cứ mỗi lần thấy ông lão dò gậy đi về là nó cất tiếng chào thánh thót: Ông Bảy... ông Bảy...

DÃ QUỲ

Trăm loài hoa được người tưng tiu trong nhà kính
Không có em
Trong niềm vui thành đạt của người
Không có em thay cho lời chúc tụng
Không ai chọn em dự phần trong lễ nghi trang trọng
Sườn núi khô cằn
Đất lèn khe đá
Sương trời trộn mồ hôi núi
Em lặng lẽ vươn mình
Rực rỡ sắc cao nguyên.

CÓ MỘT NGÀY

1

Có một ngày tôi tìm gặp chính tôi
Lúc không gian chìm trong tiếng ve trên vòm lá
Giữa trưa trên đường thị xã
Chật nứt tiếng dế
Nơi cánh đồng nẻ khô gốc rạ - tuổi thơ
Tôi tìm gặp tôi trong ánh mắt, nụ cười
Hồn nhiên như cỏ gà cỏ mật
Những chú bê tròn mắt
Chút hương đồng sót lại tươi non
Tôi tìm gặp tôi trong khói lửa chiến trường
Xác đồng đội trên tay
Với bức thư tình chưa kịp gởi
Mẹ im lặng sao xoáy lòng tôi dấu hỏi
“Hãy yên lòng” – con sóng cuộn thắt tim