Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ CĂN PHÒNG ĐÓNG KÍN



Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Vậy là ông không đến. Chỉ lần này hay mãi mãi Du sẽ không gặp lại ông? Bây giờ nghĩ lại, Du mới tin sự linh cảm của mình. Mấy hôm nay không biết sao lòng dạ Du cứ bồn chồn, khắc khoải nhớ đến ông. Cứ nghĩ gần tới ngày gặp được ông thì nỗi mong đợi ấy cũng là chuyện bình thường. Nhưng không phải vậy.
Thật ra ông và Du không ai thốt ra một lời hẹn. Vậy mà, như một sự mặc định, đã năm năm nay cứ ngày này thì Du và ông lại gặp nhau. Cũng vẫn là ngôi nhà nghỉ cũ kỹ của Thư - cô bạn học ngày xưa của Du - nằm cạnh bờ sông ở một thị trấn ven biển. Nói là bạn học cũ, như Thư đã giới thiệu Du với ông hôm gặp đầu tiên, chỉ là một nửa sự thật. Còn một nửa, dĩ nhiên Thư không nói, mà Du cũng không tiện nói với ông hay với bất kỳ ai, Thư chính là mối tình đầu của anh. Nhưng chuyện này nói ra bây giờ, giữa thời các cặp đôi “không cần hoàn hảo”, chỉ ở ngưỡng cấp ba thôi đã rủ nhau vào nhà trọ như đi “vào trường”, có khi là đề tài mua vui cho các cô cậu trong lúc thư giãn để tiếp tục “tăng hai”. Ông nói ông là bạn của  ba Thư. Một sự ngẫu nhiên kỳ lạ là ông cũng về chùa Bửu Huệ như Du. Rồi thôi, không ai nói rõ lý do. Mà cần gì nói lý do mình đi chùa trong khi ai cũng hiểu đi chùa là để lễ Phật! Có lẽ mối thiện cảm giữa ông với Du bắt nguồn từ đó, được củng  cố thêm niềm tin bởi lời giới thiệu của Thư, nên ông vui vẻ chấp nhận cho anh nghỉ cùng phòng.

BÁNH PHỒNG SƠN ĐỐC

Bút ký của NGUYÊN TÙNG

Từ lúc nhỏ, cái thời mà tôi cùng chúng bạn nắm lưng áo nối đuôi nhau chơi trò “rồng rắn” thì tôi đã nghe tiếng bánh phồng Sơn Đốc trong câu: “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc”. Nhưng mãi những năm sau tôi mới được thưởng thức lần đầu tiên. Năm ấy gia đình tôi lâm vào cảnh túng bấn đến cùng cực. Đã giữa tháng Chạp rồi mà tôi chưa có được bộ quần áo mới, dù chỉ bằng vải bòng bột. Trên người tôi chỉ là cái áo ngắn tay, chiếc quần cụt thâm kim ngả màu xám xỉn. Một bữa vào lúc tối, má tôi chuẩn bị gióng gánh với hai khạp nước mắm ruốc (hồi ấy, quê tôi chưa có thùng thiếc, thùng nhựa nên phải gánh bằng khạp da bò loại trung, dung tích cỡ 10 lít). Bà ra đi lúc nào tôi cũng không hay, đến chiều hôm sau mới về. Nước mắm đã bán hết, thay vào đó là những chục bánh phồng được gói trong lá chuối khô. Và thật diệu kỳ với con mắt trẻ thơ của tôi, những cái bánh phồng nhỏ nhắn, trông không khác gì bánh ở quê tôi vậy mà lúc nướng lên nó nổi thật lớn, cắn ngập đến chân răng. Má tôi nói đó là bánh phồng Sơn Đốc. Từ đó cứ hai ngày một chuyến má tôi gánh nước mắm đi và đem bánh phồng Sơn Đốc về bán lại, để cho tôi có một cái Tết không thua bạn bè cùng lứa. Ngày đó tôi đã được ăn bánh phồng Sơn Đốc, dù có lẫn chút mùi nước mắm nhưng cái cảm giác ấy đến nay vẫn còn in đậm trong trí tôi.

BÌNH MINH CỦA NGƯỜI CHẾT - KHÁT VỌNG TÌM THẤY LẼ CÔNG BẰNG










(Thay lời giới thiệu)


Sau “Đường xuống biển”(*) gồm 11 truyện ngắn ra mắt bạn đọc năm 2011, Khổng Huỳnh Phong chuẩn bị cho tập tiếp theo là một tập ký nhằm lưu lại những sự việc, những con người đã để lại trong anh nhiều ấn tượng. Nhưng rồi dự định chưa kịp thực hiện thì anh đã ra đi. Hoàn thành bài “Mai vàng trổ muộn”(**) – một bài ký chân dung về Đại tá Phạm Minh Thảo, nguyên Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 269a – cho công trình Lịch sử Bộ đội Đặc công tỉnh Bến Tre (1960 – 1975) chỉ ba ngày sau Khổng Huỳnh Phong đi Viện Tim tái khám, rồi nhập viện. Bệnh tim của Phong chỉ mới khởi phát hơn nửa năm nhưng đã có diễn biến xấu. Người thân, bè bạn không ai ngờ đây lại là bài viết cuối cùng của anh. Nằm trên giường bệnh, khi biết mình khó bề qua khỏi, Phong nhắn tin qua điện thoại cho vài người bạn ước muốn của mình. Và hôm nay “Bình minh của người chết”(***)– nhan đề do Khổng Huỳnh Phong chọn từ tên một truyện ký đặt làm tên chung cho tập sách - đến tay bạn đọc nhờ sự hỗ trợ của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu và sự chung tay góp sức của anh em văn nghệ Bến Tre đối với một tác giả nhiều triển vọng, một bạn viết có cách sống vừa lịch lãm vừa rất chân tình.

CHUYỆN KỂ TRÊN DÒNG SÔNG

Bút ký của NGUYÊN TÙNG

           Để có cuộc gặp gỡ thú vị này phải kể là sáng kiến của già Năm. Ông lão đã lên hàng “thất thập”, người thấp đậm, chân đi cà sụt do một tai nạn lao động những năm gần đây nhưng giọng nói còn sang sảng mang đậm chất đặc trưng của dân làng biển. Đặc biệt ông có một bộ nhớ tuyệt vời. Có những trận đánh, những chiến công của anh em du kích kể lại còn khi quên, khi nhớ, lẫn lộn trận trước trận sau dù chính họ là người trong cuộc, vậy mà ông kể vanh vách không sót chi tiết nào. Anh Tư Hùng - Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã Bảo Thạnh đã giới thiệu với tôi như vậy. Tôi buột miệng hỏi:
- Hồi còn chiến tranh, ông Năm làm gì?
- Chỉ là dân thôi. Dân đóng đáy sông. Nhưng thuộc loại dân “gộc”, một tấc không đi, một ly không rời khỏi cái xóm Trại “con chó ngồi ló đuôi” mà phải chịu bom đạn có thể nói là nhất huyện Ba Tri này.

XỨ LỤA MỘT THỜI

Bút ký của NGUYÊN TÙNG
  
Phú Lễ hôm nay đâu còn cái âm thanh của tằm ăn rỗi, thay vào đó là tiếng gió lùa qua những vườn trúc, nguyên liệu cho nghề đương đát đang hồi phát triển. Có những gia đình ngày trước nhờ nuôi tằm, dệt lụa mà khá giả, để lưu niệm một thời họ vẫn còn duy trì một vài cây dâu...
Nhưng vốn là người thích mơ mộng tôi vẫn muốn mỗi dịp về Phú Lễ còn được nghe câu chuyện của những cô gái hái dâu với anh trai thợ dệt dù nay chỉ còn là một thời vang bóng.


* PHÚ LỄ - XỨ LỤA MỘT THỜI

Khi biết tôi có ý định muốn tìm hiểu thêm về xứ lụa Phú Lễ mà hôm nay chỉ còn là một thời vang bóng, thì người bạn thân đã hướng dẫn tôi trong chuyến đi trước cách nay mười lăm năm than:
- Ông lại lao vào cuộc phiêu lưu nữa rồi. Tôi cho rằng chuyến đi trước thành công mặc dù cái mơ ước phục hồi lại nghề nuôi tằm dệt lụa ở Phú Lễ này trong bài viết lúc đó của ông là không hiện thực. Còn lần này sẽ vô cùng khó bởi vì những người sót lại của thời đó như ông Tám Trình, bà Ba Mừng nay không còn nữa. Ngay má tôi, người duy nhất ở xã này se tim đèn bằng bông vải vì nhớ nghề xưa cũng sắp nghỉ rồi. Hôm trước bà bịnh một trận tưởng đã “quăng gậy”.

ĐÊM TRĂNG Ở MỘT LÀNG HÒ

Bút ký của NGUYÊN TÙNG

 Có thể sẽ có một câu chuyện cổ tích:
 Ngày xưa, xưa lắm khi mặt biển vưa nhô lên ba hòn đảo nhỏ nằm cặp kè nhau mà sau này người ta gọi là Minh, Bảo và An Hóa, có một chấm đất nhỏ nổi lên từ từ sáp nhập vào cù lao Minh trên đó mọc một cây Cui. Cứ nước lớn thì gò đất mất đi, chỉ có ngọn Cui nằm chơ vơ trên mặt biển, để nước ròng gò đất lại bày ra. Năm này qua năm khác gò đất cao lên và lan rộng, Cui cũng mọc thành rừng đẩy lùi mặt biển ngày càng xa. Cây Cui đầu tiên bây giờ đã sum suê cành lá. Từ trong thân Cui hiện ra một cô gái thật đẹp. Mỗi chiều cô gái thường hay dạo chơi dọc theo bãi biển để đón nước triều lên.
Từ khi gò đất nhô cao hình thành một vùng đất khô ráo có thể trồng tỉa được thì con người cũng đặt chân đến. Họ khai phá rừng đốn củi, đước, đưng, sậy... để cấy lúa. Trong số người đó có một anh nông dân còn rất trẻ tình cờ bắt gặp cô gái. Và họ đã phải lòng nhau. Theo sự chỉ dẫn của chàng trai cô gái đã dần quen với công việc đồng áng. Cô trở thành người thợ cấy xuất sắc. Một hôm trong lúc đang cấy trên cánh đồng rộng mênh mông cô gái cũng cất lên giọng hò làm ngây ngất lòng người. Giọng hò cao vút, óng mượt nghe như phảng phất trong ấy tiếng gió lùa và hình ảnh những gợn sóng lăn tăn. Phút chốc mọi người quên đi sự mệt nhọc.

BÓNG VÀ HÌNH

 Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Ông đứng dậy, lê những bước chân chậm chạp ra hiên khi chợt nhận ra bóng tối đã tràn ngập căn phòng. Xấp giấy trên bàn dày đặc chữ như đàn kiến đang động ổ. Ông không muốn bật đèn vì ánh sáng lúc này không thể xua tan được khoảng mù tối của tâm hồn ông đang chìm ngập.
Nàng đến. Đến trong lúc ông không còn chút hy vọng. Hơn bốn mươi năm rồi còn gì. Ngần ấy thời gian ông luôn ước mong nàng, dù chỉ là thoáng chốc khi ông say sưa trên những dòng bản thảo. Cũng ngần ấy năm tên tuổi ông đã được khẳng định trên văn đàn, và như trận bão nổi làm xô dạt cả giới sân khấu. Báo chí không tiếc lời xưng tụng ông. Nhưng trong sâu kín của tâm hồn ông chỉ mong chờ nàng, dù chỉ là ánh mắt hiện ra trong một thoáng mơ hồ. Vậy mà nàng vẫn tuyệt tích. Hôm nay trên những trang bản thảo cuối cùng – Phải, cái kịch bản cuối đời như ông thầm khẳng định, nàng trở lại. Vẫn hình ảnh cô thiếu nữ ngày xưa với mái tóc dài óng mượt. Thật gần mà cũng thật xa. Gần vì nàng đang trước mặt ông. Ông nhận rõ những điều nàng muốn nói trong đôi mắt, trên làn môi nhưng thật xa vì ông biết rõ mình không thể nào với tới. Nàng vẫn trẻ trung, sắc đẹp càng ma quái. Duy ánh mắt không hồn nhiên như những lần đầu ông bắt gặp. Nó lạnh lùng, nghiêm khắc và ông cảm nhận được trong đó chứa đựng sự nghiệt ngã. Nét lạnh băng của cái nhìn làm ông run rẩy.

CON CÒNG GIÓ MỒ CÔI

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Tôi nói với Hạnh:
- Nếu không gặp lại Hạnh, cậu sẽ ân hận suốt đời vì vết thẹo ấy. Vết thẹo do chính mình đã gây ra.
Chị Hai tôi cố nở nụ cười trên gương mặt méo mó hằn rõ sự đau đớn thể xác cố kìm nén pha lẫn với niềm xúc động:
- Em chỉ vô tình thôi mà. Lúc ấy em hãy còn là trẻ con. Ai nỡ trách lỗi lầm của một người chưa có đủ ý thức.
Hạnh không nói gì, chỉ mỉm cười vô tư. Chị Hai tôi buông bàn tay đang mân mê vết thẹo chỉ còn là một vệt mờ nhạt chạy dài từ ót xuống bả vai của cô con gái, bước chậm chạp đến chiếc võng được thắt bằng dây chuối giăng ở hai cây cột của căn nhà cất theo kiểutrính. Dù chị cố tình quay nhanh tôi cũng kịp thấy hai giọt nước long lanh nơi khóe mắt. Tôi hiểu những điều chị vừa nói là xuất phát tận đáy lòng và giọt nước mắt kia chính là biểu hiện của niềm vui quá lớn. Nhìn cái dáng đi chậm chạp nặng nề của người bị xơ gan cổ trướng ở giai đoạn cuối của chị tôi thấy thật ái ngại. Tôi nói với chị điều mà từ lâu tôi cảm nhận khi nhớ về cảnh hiu quạnh của chị và đứa cháu lúc ấy chưa biết sống chết ra sao:
- Có những lỗi lầm dù do sự vô ý nhưng nó đã gây đau khổ cho kẻ khác suốt đời. Em sẽ không tha thứ cho hành động ấy của mình cho dù lúc ấy em còn là đứa con nít, chưa lường hết được hậu quả cái điều mình đã gây ra.

DẤU HỎI LẶNG

 Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Tôi nhận ra Tân ngay dù chỉ nhìn thoáng qua sau tấm cửa kiếng màu trà. Người trợ lý của tôi hướng dẫn anh đến phòng khách để chờ tôi. Dù biết Tân là bạn thân nhất của tôi thì anh ta cũng không dám báo giữa lúc tôi đang chủ trì cuộc họp quan trọng với bên đối tác. Cuộc họp khá căng thẳng và lúc thấy Tân là lúc tôi đang phát biểu. Không khó khăn gì để nắm bắt được yêu sách của những vị khách hàng. Họ rất cần sản phẩm của chúng tôi nhưng bề ngoài cố tỏ vẻ hờ hững với nó, luôn tìm những khuyết điểm nhỏ nhặt để chê bai hầu đạt được mục đích là hạ giá sản phẩm theo mỗi lần ký hợp đồng. Mềm mỏng nhưng kiên quyết. Đó là tiêu chí trong kinh doanh của tôi, mà muốn đạt được thành công theo hướng này thì hàng hóa của công ty tôi phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và độc đáo về mẫu mã. Tôi tin mình sẽ làm được điều đó. Họ có cách cò kè bớt một thêm hai của họ thì tôi cũng có bản lĩnh của tôi buộc họ phải chấp nhận mức giá mà tôi cho là hợp lý. Tôi cần biểu hiện bằng một hành động cụ thể nào đó vừa lịch sự nhưng cũng vừa để họ nhận ra một cách tế nhị rằng sản phẩm của công ty đang là lực hút của nhiều đơn vị khách hàng khác. Chính lúc ấy tôi đã thấy Tân. Viện lý do mình còn cuộc họp với đại diện công ty mỹ nghệ của một nước Tây Âu, tôi xin phép được vắng mặt và giao quyền quyết định lại cho vị Phó Giám đốc. Trong phép ngoại giao hành động này có thể bị xem là bất lịch sự nhưng ở trường hợp này tôi biết nó sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.

KHOẢNG CÁCH

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

Người đàn bà dùng muỗng xúc cà phê đổ vào hai chiếc phin trắng muốt. Bên cạnh cách một tầm tay với, bếp than vàng rực hắt gọn sức nóng lên chiếc ấm cũng trắng muốt. Nước bắt đầu réo. Với đôi bàn tay dịu dàng người đàn bà vẫn tiếp tục công việc của mình một cách đều đặn, có phần cầu kỳ. Gương mặt chị không biểu lộ điều gì, như đang chăm chú vào hai phin cà phê sắp pha. Nhưng dù không nhìn chị vẫn không bỏ sót một cử chỉ nào của người đàn ông. Người đàn ông đang ngồi trên chiếc bàn thấp ở gian nhà trên ấy không xa lạ gì với chị nhưng rõ ràng anh ta tới tìm chị hôm nay là một sự bất ngờ. Mười năm rồi còn gì. Mười năm, chị tưởng thời gian ấy đủ để hàn kín vết thương trong lòng chị và đủ để phủ trong lòng người ấy một lớp lãng quên. Vậy mà…
          Người đàn ông xoay xoay điếu thuốc đang hút trên những đầu ngón tay. Những sợi khói mỏng như tơ được không khí kéo lên từ đầu điếu thuốc thành những sợi ngoằn ngoèo, rời rạc.
          - Thay đổi nhiều quá. Tôi tưởng em không còn nhận ra tôi nữa.
          - Cũng khó mà quên. Tôi thì ngạc nhiên khi thấy anh còn nhớ.

MIỀN CỔ TÍCH

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Là bạn à? Vậy mà mình tưởng… Vô nhà đi”.
Cánh cổng mở ra sau lần nhấn chuông thứ hai. Cô gái giật mình, khựng lại khi nhận ra anh chàng học cùng lớp với mình. Suýt chút nữa cô đã viện cớ tháo lui. Giả dụ như “Tôi có người bà con ở đường này mà số nhà 127 hay 217 gì không nhớ rõ. Bấm chuông số này không ngờ lại nhầm nhà bạn… Xin lỗi nghen. Chắc người bà con mình ở số kia”. Rồichuồn. Nhưng cô kềm lại được khi người con trai nở nụ cười thật tươi – nụ cười cô chưa từng thấy trên gương mặt của anh chàng vốn đẹp trai mà nghiêm nghị một cách đáng ghét này.
Cô chìa ra mảnh giấy nhỏ được cắt từ một tờ báo ngày:
“Có phải bạn cho đăng mẩu tin này trên báo?”
Người con trai mở to mắt, ngạc nhiên:
“Vậy là bạn…?”
“Ừ!”
Mẩu tin vỏn vẹn bằng nửa bàn tay, thông báo cần người chăm sóc cho một phụ nữ mắc chứng Alzheimer. Yêu cầu: nữ, tuổi từ 18 đến 25. Tính tình hoạt bát, vui vẻ. Có khiếu kể chuyện, đặc biệt là chuyện cổ tích. Không nhất thiết phải phục vụ 24/24 mà chỉ cần mỗi ngày một buổi đến trò chuyện, hoặc dẫn người bệnh dạo chơi ngoài công viên hoặc trước cổng trường Mẫu giáo.

NƠI BẾN SÔNG XƯA

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Cuối cùng thì Thuận cũng dừng xe lại. Anh bước xuống tiến lại gần ông già đang đứng bên vệ đường phía trước khoảng năm mét, tay vẫn còn đưa thẳng ra trong tư thế đón xe.
- Đi chơi nghen!
Thuận nói, nắm tay dẫn ông đến cửa xe rồi đỡ ông lên ca bin chiếc Benz. Ông lão vẫn im lặng và ngoan ngoãn làm theo. Đã chín giờ đêm. Trăng mười bốn thập thò bởi những đám mây mỏng bay lướt làm cảnh vật bên dưới lúc thì sẫm lại, lúc hiện ra sáng trong, mây mẩy. Thuận biết mình vừa làm một việc mà từ lâu anh tự nói với lòng là không được phép làm. Nhưng đêm nay trong chuyến chở đất cuối cùng ra công trường Thuận không đành lòng chạy vút qua, bỏ mặc ông lão như bao lần khác. Đã nhiều ngày rồi, ông Hảo - tên ông lão - vẫn đứng ở ngã ba này, nơi ngã rẽ ra hướng bờ sông chờ những chiếc xe chở đất ra công trường là giơ tay đón. Không ai dừng lại, Thuận cũng vậy vì đó là một ông già lơ ngơ, lẩm cẩm. Với Thuận thì ông Hảo không xa lạ gì bởi Thuận là người duy nhất trong đội xe tải chuyển đất ra công trường quê ở làng này. Thuận biết ông từ lúc anh còn là đứa trẻ con, vả lại ông Hảo cũng rất nổi tiếng vì cá tính kỳ quặc của mình. Vài ba năm trở lại đây một cơn tai biến mạch máu não đã biến ông thành một con người hoàn toàn khác. Từ một ông già sức khỏe còn lực bạt, nhanh nhẹn giờ trở nên chậm chạp, ăn nói khó khăn, trí óc mụ mẫm khi nhớ, khi quên.

PHÍA TRƯỚC

 Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Cửa sổ mở rộng. Giồng cát trước nhà hắt lên màu vàng sáng, chói mắt. Vài làn gió mỏng thoảng qua không đủ sức xua đi cái nóng hầm hập trong nhà của nắng tháng tư. Cô gái đưa tay hất nhẹ làn tóc để đón chút gió luồn vào sau gáy. Cử chỉ ấy là mật ngọt rót vào lòng ông Thân. Ông choáng say. Có gì đâu, nhưng nó muôn đời là của em. Nó muôn đời vẫn là của tôi (em hiểu không?). Nó ngự trị trong tim tôi như một cái gì thiêng liêng mà nghiệt ngã nhất.
- Ngày về tôi có qua Mỹ Tho. Tôi đứng trước ngôi nhà trọ của em. Cửa khóa chặt, nhưng cửa sổ trên lầu vẫn mở. Gió đập vào làm tấm rèm rách xả,
lòng thòng.
Cô gái tròn xoe đôi mắt. Ôi, đôi mắt. Nó đã đốt cháy lòng tôi từ thuở em còn là cô học trò đệ nhị. Một ngọn lửa thiêng. Tôi chiêm ngưỡng nó như con chiên chiêm ngưỡng Chúa.
- Lúc ấy em đã ra trường và chuyển về đây rồi. Trước đó em có gởi thư cho thầy hay, thầy có nhận được không?
- Có, tôi có nhận được trước hôm ra trại một tuần. Và người chủ nhà cũng có nói. Nhưng không biết sao tôi vẫn muốn đứng đó. Tôi hy vọng từ trong cửa sổ em ló đầu ra, nhìn xuống.
- Thầy. Thầy có chuyện gì buồn lắm sao? - Cô gái lo lắng.
- A! Không!

TIẾNG HÚ TRONG ĐÊM HỘI LĂNG

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Tôi chụm hai bàn tay vòng quanh miệng thành hình loa định hú một tiếng, thì nghe tiếng Miên từ trong nhà vọng ra:
- Điên hả?
Tiếng cười Miên vỡ ra, rũ rượi. Tôi ngượng ngùng, tần ngần một lát rồi lững thững bước vào nhà ngồi xuống chiếc ghế cạnh máy may của Miên. Tiếng trống chầu từng hồi dài giục giã phía bên lăng vọng lại. Trống báo hiệu mọi người hội tụ để cúng lễ đầu tiên của ngày hội lăng. Nắng đã tắt. Dòng sông trước mặt tôi đã nhàn nhạt bởi ánh trăng.
- Sông bây giờ rộng lắm, không còn ai hú nữa!
Tôi cố đùa để xua đi cảm giác hụt hẫng vừa rồi, nhưng giọng vẫn nghe buồn buồn:
- Thì tôi hú. Lâu ngày về thèm hú như ngày xưa quá!
- Đâu còn cái thời Miên là cô lái đò nữa. Bây giờ người ta đưa khách bằng đò máy, ngày bốn chuyến, giờ giấc hẳn hoi.

TRỞ LẠI

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

“Tôi không nói với mẹ
mà với cả mọi người
Tôi vấp vào hòn đá
Ngày mai sẽ lành thôi”.
(Êxênhin)

1.

Tách cà phê đã vơi phân nửa, Nghĩa vẫn ngồi im lặng. Tôi chợt nhận ra tóc bạn mình chớm nhiều sợi bạc. Mái trước lẫn những sợi hoe vàng rũ xuống đuôi mắt tạo cho gương mặt hình tam giác có một vẻ trầm buồn, u uất. Linh cảm có chuyện hệ trọng đã đến với Nghĩa, tôi bật ra câu hỏi:
- Trâm ra sao?
Nghĩa ngước đôi mắt sâu sớm hằn những vết nhăn nhìn tôi, giọng trầm xuống và trở nên xa xôi:
- Mình vừa chia tay với Trâm!

TÊN MỘT LOÀI CỎ

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG

I

Thằng Tèo bỏ nhà ra đi hôm mùng bốn Tết. Chuyện ấy làm cả xóm xôn xao, ai cũng nói nó bắt đầu cơn điên mới. Bà Kiểu vì thương con, một phần vì sợ ông Kiểu sẽ trút trận lôi đình xuống đầu, bà khóc hết nước mắt, người khô tóp, gầy rộc đi. Ăn ở với bà đã năm mặt con, thật ra ông Kiểu chưa đánh bà một bạt tay nào, nhưng trong những cơn thịnh nộ ông chửi bà như tát nước vào mặt. Chỉ nhớ tới những trận chửi của ông Kiểu là bà cảm thấy choáng váng và nghẹt thở như chính ông đã dùng những nắm đấm mà giáng tới tấp xuống đầu, xuống ngực bà một cách vũ phu. Sống với nhau gần bốn mươi năm bà đã quen mọi tính ăn nết ở của chồng nhưng bà không sao quên được cái cách đối xử chồng chúa vợ tôi đó.
Mấy ngày liền con Kim Lan, thằng Dũng, con Nhan đổ xô đi tìm thằng Tèo vẫn bặt tăm. Một hôm, người hàng xóm cho hay đã thấy nó lẩn quẩn ở ga xe lửa Hoà Hưng. Con Kim Lan nghỉ một buổi đi làm, đạp xe tìm em. Nó không tin rằng thằng Tèo nhập vào băng móc túi, cướp giật vì nó lù khù, chậm chạp và thêm chứng tâm thần lúc nào cũng lơ lơ láo láo. Nó biết tính em. Mặc dù không như người bình thường nhưng thằng Tèo không biết tham, chưa bao giờ nó lấy cắp vật gì của ai dù rất nhỏ. Nghĩ vậy nhưng con Kim Lan vẫn thấy lo. Làm sao có thể lường được hành động của một người không còn đủ trí khôn. Nó nơm nớp lo sợ cái tình huống chắc chắn sẽ xảy ra nếu thằng Tèo nhập vào băng móc túi: Một là nó sẽ bị công an tóm vì sự chậm chạp và vẻ ngây độn của nó. Hai là nó sẽ bị chính cái đám lưu manh chuyên môn cướp giật ấy “bề hội đồng” để “cuỗm” đi cái món mà thằng Tèo lấy được.

VI DIỆU

Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG


Không phải là giấc mơ. Bất chợt một rừng kiểng điệp trùng với đủ mọi hình dạng, tư thế sừng sững hiện ra làm ông Thiện tưởng mình hoa mắt. Chính lúc ấy, ông nghe bên trong ngực trái mình giật thót. Một cảm giác nhói buốt đến khó thở. Tay ông run và bước chân lảo đảo.
- Ông anh sao vậy? Không khoẻ à? - Một ông tuổi khoảng sáu mươi có cái bụng như người đàn bà có bầu tám tháng đi bên cạnh hỏi.
- Bác có bị cao huyết áp? Hay là cảm nắng? Thôi, để cháu dìu bác vô nhà. Kia, anh Sơn đang đứng ở hòn non bộ, để cháu cho ảnh hay. - Tiếng của người đàn ông trung niên có mái tóc dài quăn tự nhiên, ra vẻ là một nghệ sĩ.
Ông vội lắc đầu:
- Không sao. Đừng nói với chú ấy. Khách đông quá mà! Tôi ngồi đây nghỉ một chút là khoẻ. Già rồi, sinh ra trở chứng, thất thường vậy!

THẬP KHÚC

Truyện vừa của NGUYÊN TÙNG


1

Chị và bé Trâm là những người cuối cùng rời khỏi nấm đất mà vừa đây người ta đã vùi lấp đi hình hài còm cõi của ông lão dở điên dở tỉnh. Chị sẽ còn ngồi lại rất lâu nếu như con bé không chạy đến lay chị sau khi nghịch cát chán chê. "Cô ơi, mình về đi cô. Con đói bụng!". Chị giật mình nhận ra chiều đã xuống thật sâu. Mảnh trăng liềm mùng bốn mỏng như dấu móng tay ai vừa bấm để lại trên nền trời. Sương bắt đầu xuống vì chị nghe lành lạnh ở bả vai. Chị vốc thêm mấy vốc cát đắp lên ngôi mộ rồi uể oải đứng dậy. Bé Trâm cũng chạy đến chắp đôi bàn tay bé xíu xá nấm đất mấy xá rồi hai cô cháu dắt tay nhau đi trên con đường đất mập mờ. Bất chợt, con bé hỏi:
- Cô ơi, ông Tư nằm dưới đất rồi, không còn ai lạy mặt trời, vậy ngày mai trời có mọc không cô?

VĂN XUÔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: THỪA VÀ THIẾU

(Tham luận Bàn tròn Văn xuôi ĐBSCL)

NGUYÊN TÙNG

Lời đầu tiên cho phép tôi cảm ơn Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Liên lạc Nhà văn Đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức cuộc hội thảo đầy ý nghĩa này để chúng tôi, những tác giả văn xuôi có dịp ngồi lại, nói lên những suy nghĩ của mình về thực trạng văn học hôm nay, nhất là mảng văn xuôi hư cấu ở một khu vực trẻ nhất trong tiến trình lịch sử của đất nước.
Có một điều cần khẳng định ngay rằng văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay vẫn là sự tiếp nối dòng văn xuôi yêu nước của thế hệ các nhà văn  trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Họ đã góp phần tạo dựng được diện mạo chững chạc của nền văn chương Nam bộ hiện đại hòa vào dòng chảy của nền văn học cách mạng Việt Nam. Và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng những nhà văn này vẫn không ngừng tự hoàn thiện mình trong cách nhìn về chiến tranh. Họ vẫn là lực lượng nòng cốt, là hạt nhân tập hợp và dẫn dắt đội ngũ tác giả trẻ hình thành sau ngày giải phóng đến nay. Ở phạm vi bài này tôi xin giới hạn suy nghĩ của mình về mảng văn xuôi hư cấu của các tác giả xuất hiện sau 1975.

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

CHÚT HƯƠNG ĐỜI CÒN ĐỌNG

                                                                      NGUYÊN TÙNG
                         (Ghi theo lời kể của nhà thơ LÊ HÀ)

Cha ngã xuống buổi chiều Yên Bái
Hơi ông tàn trên một nẻo Cần Vương
Mùa thu sang... con cháu lên đường

Đó là những câu thơ đầu tiên của tôi khi tham gia vào Đoàn Văn hóa kháng chiến ở tỉnh Bến Tre. Nó cũng đánh dấu sự chuyển hướng của thơ tôi, từ thơ tình yêu sang trữ tình cách mạng. Nói thì nghe nhẹ nhàng vậy chứ lúc ấy thật không dễ dàng gì đối với anh chàng làm thơ trẻ mang tên Lê Nguyên là tôi, mới 23 tuổi, dù tâm trạng hăm hở đến với cách mạng. Sinh ra ở Tuy Hòa, học sư phạm ở Sài Gòn ra trường về dạy ở Giang Thành - Hà Tiên năm 1943 rồi tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (8-1945) tại Thị xã Hà Tiên. Đến năm 1947 khu IX có tổ chức một đoàn thanh niên trong đó có tôi về học trường Lục quân ở Quảng Ngãi do đồng chí Vũ Đức - Tư lệnh Quân khu IX dẫn đầu. Đoàn đi đến Bến Tre thì gặp ông Trương Văn Giàu - Khu bộ phó Khu VIII. Ông Giàu thấy đoàn đi ba bốn chục người nặng nề quá mà đường thì xa, phương tiện khó khăn nên bàn với Tư lệnh Khu IX nên để anh em ở lại tham gia vào Ban Tuyên huấn tỉnh Bến Tre. Vậy là chúng tôi được ở lại tại trường Đảng, đóng tại Cồn Ốc (nay là xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm). Chỉ còn bốn người đi Quảng Ngãi. Hiệu trưởng trường Đảng lúc ấy là ông Trần Trường Sinh - người hiệu trưởng trường Đảng đầu tiên ở Bến Tre mà sau này Tỉnh ủy đã quyết định lấy tên ông đặt cho tên trường.

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CƠN HẠN

NGUYÊN TÙNG



Người đàn bà đi trong cơn hạn cuộc đời
Gió thốc                                                  
nắng tràn                                 
và mắt người seo sắt
Lời hứa xưa dành cho ngày gặp mặt
Để ánh nhìn xói lở mãi triền sông
Bìm bịp kêu                             
bìm bịp kêu                   
con nước vẫn ròng
Bỏ xa bãi                                 
xa dần thời hò hẹn

ÔNG VÂN TIÊN

Truyện ký của NGUYÊN TÙNG
        Không ai biết ông lão tên gì, ở đâu. Người ta chỉ biết cách đây vài tháng nhà nước Pháp có đưa từ Côn Đảo về quản thúc ở thị xã một người tù chính trị mù cả hai mắt. Và họ đồn rằng chính bọn Pháp đã chích thuốc cho ông lão mù lòa để không còn làm cộng sản được nữa. Cứ mỗi sáng ông lão ôm con chó nhỏ dò gậy đi ra chợ, có hôm thì có chú bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi dắt. Ông đi loanh quanh một lát rồi mua vài cái bánh bò cho con chó ăn. Ông ngồi xuống vuốt ve, nựng nịu nó giống như một ông già nựng cháu. Đến lúc về thì con chó chạy lóc thóc ở đằng trước dẫn đường ông lão đi. Lâu ngày thành quen, người ta cứ gọi ông lão là ông Vân Tiên.
Ông lão ở trọ một căn phố của bà Đội Chấn, trong khu cù lao Bình Dương. Gọi là phố nhưng đó chỉ là những căn nhà lá nhỏ hẹp được cất thành dãy. Đầu dãy phố là căn nhà tường nguy nga của người chủ. Trước cửa có treo chiếc lồng nhốt một con nhồng đã biết nói để làm kiểng và giữ nhà. Cứ mỗi lần thấy ông lão dò gậy đi về là nó cất tiếng chào thánh thót: Ông Bảy... ông Bảy...

DÃ QUỲ

Trăm loài hoa được người tưng tiu trong nhà kính
Không có em
Trong niềm vui thành đạt của người
Không có em thay cho lời chúc tụng
Không ai chọn em dự phần trong lễ nghi trang trọng
Sườn núi khô cằn
Đất lèn khe đá
Sương trời trộn mồ hôi núi
Em lặng lẽ vươn mình
Rực rỡ sắc cao nguyên.

CÓ MỘT NGÀY

1

Có một ngày tôi tìm gặp chính tôi
Lúc không gian chìm trong tiếng ve trên vòm lá
Giữa trưa trên đường thị xã
Chật nứt tiếng dế
Nơi cánh đồng nẻ khô gốc rạ - tuổi thơ
Tôi tìm gặp tôi trong ánh mắt, nụ cười
Hồn nhiên như cỏ gà cỏ mật
Những chú bê tròn mắt
Chút hương đồng sót lại tươi non
Tôi tìm gặp tôi trong khói lửa chiến trường
Xác đồng đội trên tay
Với bức thư tình chưa kịp gởi
Mẹ im lặng sao xoáy lòng tôi dấu hỏi
“Hãy yên lòng” – con sóng cuộn thắt tim