Truyện vừa của NGUYÊN TÙNG
1
Chị và bé Trâm là những người cuối cùng rời khỏi nấm đất mà vừa đây người ta đã vùi lấp đi hình hài còm cõi của ông lão dở điên dở tỉnh. Chị sẽ còn ngồi lại rất lâu nếu như con bé không chạy đến lay chị sau khi nghịch cát chán chê. "Cô ơi, mình về đi cô. Con đói bụng!". Chị giật mình nhận ra chiều đã xuống thật sâu. Mảnh trăng liềm mùng bốn mỏng như dấu móng tay ai vừa bấm để lại trên nền trời. Sương bắt đầu xuống vì chị nghe lành lạnh ở bả vai. Chị vốc thêm mấy vốc cát đắp lên ngôi mộ rồi uể oải đứng dậy. Bé Trâm cũng chạy đến chắp đôi bàn tay bé xíu xá nấm đất mấy xá rồi hai cô cháu dắt tay nhau đi trên con đường đất mập mờ. Bất chợt, con bé hỏi:
Chị gật đầu như một cái máy để trấn an nỗi lo sợ thánh thiện trong lòng con bé. Nhưng với chị, câu hỏi ngây thơ của đứa cháu lên bảy đã khoét sâu thêm nỗi trống vắng trong tâm hồn kể từ lúc chị nghe tin ông lão chết. Từ nhiều năm nay cứ tang tảng sáng là người ta thấy ông lão có mặt trên nổng cát, mặt quay về hướng đông quì xuống và lạy. Ông quì lạy như vậy cho đến lúc mặt trời mọc lên đỏ ối rồi lấp lóa một màu sáng chói mới thôi. Thường trong thời điểm ấy dáng điệu ông lão thật trịnh trọng, mặt căng thẳng đến kỳ lạ. "Mặt trời là của tao! Mặt trời là của tao!". Ông gào lên như vậy nếu ai đó tỏ ý châm chọc hay giành phần. Cái thói quen kỳ quặc của ông lão có lúc làm trò cười, cũng có khi làm gai mắt cho một số người trong làng nhưng đó là hình ảnh không thể thiếu đối với chị trong những năm gần đây. Rất nhiều lần đi đến trường dạy học ngang qua nổng cát chị phải sựng lại nhìn ông lão trong dáng dấp khẩn cầu ấy. Chị nghe lòng dâng lên nỗi thương cảm đến xót xa. Không hẳn cho ông mà cho cả chị. Trong tận cùng của tâm hồn chị thầm cảm ơn ông đã cụ thể hóa, dù bằng những động tác ngô nghê trong trạng thái bất bình thường điều mơ ước mà từ lâu trĩu nặng lòng chị: Mong mỏi mặt trời lên. Chính vì vậy mà càng lúc chị càng thân thiết với ông lão. Và chị biết, những lúc tỉnh, chỉ một mình ông là hiểu nỗi buồn của chị cũng như chị đã thấu hiểu nỗi đau tận cùng của ông. Nhưng bây giờ... Cũng là xong một kiếp người.
*
* *
Dấu móng tay in trên nền trời chếch thấp về hướng Tây , bị che khuất bởi làn mây màu chì mỏng. Con đường đất mấp mô có lúc hẫng hụt dưới chân chị.
- Cô ơi, ông Tư chết rồi không còn ai kể chuyện đời xưa cho con nghe nữa! - Con bé nói như mếu.
- Từ nay cô sẽ kể cho con nghe.
- Cô kể đi, chứ con mỏi chân rồi nè. Bữa hổm ông Tư dẫn con lên đền thờ ông sơ, dọc đường ông Tư kể chuyện đời xưa hay lắm làm con quên mỏi chân.
- Ngày xửa, ngày xưa có hai chị em cùng cha khác mẹ, người chị tên là Tấm...
Bé Trâm đứng lại, bàn tay bé xíu của nó đang nắm tay chị vung vung, nung nẩy:
- Hổng phải chuyện đó. Ông Tư kể vầy nè: Ngày xưa nơi đây toàn là rừng. Ông sơ nhà mình tới dọn cây dựng nhà, rồi làm gì mà có đánh cọp nữa. Mà cô ơi, ông Tư kể ông sơ làm thơ hay lắm. Thơ là gì mà đánh ăn cướp được hả cô?
Một cơn gió lướt qua làm chị rùng mình. Tiếng con vạc kêu lên thảng thốt như xé tan cái u tịch của bóng chiều nhá nhem. Đây là khoảng thời gian sau một ngày lặn lội đồng xa cò trở về tổ để vạc bắt đầu cuộc mưu sinh trong đêm tối. Một cuộc "giao ban" mang thuộc tính của loài nhưng nó diễn ra quyết liệt, dứt khoát. Lại một lần nữa chất hồn nhiên của đứa bé đã dồn chị vào thế không thể trả lời.
Thơ là gì? Nó là thực, là hư? Là cái tinh chất được cất ra từ niềm vui, nỗi buồn, từ máu và nước mắt, nhưng cũng có thể nó không là gì cả! Nó là ngọn lửa sưởi ấm ở người này nhưng lại là gáo nước lạnh tạt vào mặt người kia. Nó là niềm an ủi đối với anh nhưng lại là con số không to tướng, lạnh lùng và vô nghĩa đối với tôi... Tất cả những điều ấy làm sao chị có thể giải thích với con bé.
Những giọt nước mắt từ lâu chị đã cố kìm nén đến bây giờ như không chịu được nữa, chực trào ra. Chị nhận ra mình hiểu quá ít về ông lão, vậy mà từ lâu chị vẫn ngỡ đã thấu hiểu được lòng ông. Ngoài những thời khắc bất thường trong tâm trí, còn lại là một chuỗi dài trầm lặng của ông bên những gốc kiểng, chăm chút cho những cành hoa. Bàn tay gầy guộc, khẳng khiu nhưng khi chạm vào cành mai chiếu thủy, cần thăn hay mãn đình hồng thì nó trở nên thoăn thoắt, điêu luyện của một nghệ nhân. Chị ngỡ sự say mê chỉ là để giấu che, dìm khuất cái ám ảnh khủng khiếp của cuộc chiến tranh mà như số phận định sẵn buộc ông phải là nhân chứng. Cũng chính cái ám ảnh đó mà cứ đêm xuống là nó bám riết, vật vã, quay cuồng cho đến lúc buộc tâm trí ông ngã quỵ. Chính lúc ấy, ông băng trong đêm tối, dẫm đạp lên vạt cỏ ướt sương ra nổng cát quì lạy mặt trời lên. Chị đâu ngờ những biến thiên trong ngôi nhà từ đường, trong gia tộc chị cũng chính là cơn lốc xoáy trong tâm hồn vốn đã là cơn bão của ông.
Vậy là ông đã kể cho bé Trâm nghe cái lai lịch tỏa hào quang của ông cố chị. Thật ra ánh hào quang ấy đến nay vẫn còn tỏa sáng mà chính chị mặc nhiên thừa hưởng nhưng đã có lúc chị công khai chối bỏ.
Hơn một trăm năm trước ông cố chị là nhà thơ nổi tiếng cả vùng. Ông đã thiết lập trong thơ một nền luân lý dựa trên đạo đức Khổng - Mạnh kết hợp với tâm hồn nông dân Việt Nam để qua đó truyền giảng cái đạo lý làm người của thanh niên trong thời tao loạn. Không ai phủ nhận thơ ông đã tiếp thêm sức mạnh cho họ, những người nông dân chân chất đầu trần suốt đời lam lũ, nhưng sẵn sàng hiến dâng đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ từng tấc đất của ông cha mà giặc đã mưu toan xâm chiếm. Là nhà thơ của nông dân nhưng với một đất nước mà hết chín chục phần trăm dân số làm nông nghiệp này thì lẽ đương nhiên ông đã là nhà thơ của nhân dân. Họ tôn vinh ông. Đối với dân làng dù trải qua bao thế hệ nhưng cái nền tảng luân lý trong thơ ông đã chiếm ngự một góc nhỏ thiêng liêng trong đời sống tâm linh của họ. Họ góp sức lại dựng lên ngôi đền thờ Nhà-thơ-nhân-dân thật trang trọng. Bây giờ đối với gia tộc chị, ngôi từ đường nơi mà chị, người anh, và gia đình đứa em trai đang ở là chốn thiêng liêng nhất. Vậy mà có lần chị cương quyết từ bỏ nó, suýt chút nữa nó đã làm mồi lửa trong chiến tranh, nếu không có ông lão.
2
Chị rời khỏi làng quê giữa lúc tên tuổi ông cố chị rực sáng trên thi đàn hừng hực tư tưởng đấu tranh. Người ta đọc thơ ông trước giờ ra trận hay giữa lúc hoang mang chao đảo trước cuộc sống đầy khó khăn, nguy hiểm. Thơ ông cũng ngân nga trong tâm hồn những chàng trai khi đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời để chọn một hướng đi, hay cô gái trước nhiều cám dỗ của cái xã hội vừa nhiễu nhương vừa xa hoa, phù phiếm. Và chị bỗng nhận ra trong bầu trời thi ca lúc ấy ông là ngôi sao rực sáng vì sự rạch ròi trong cách truyền giảng Thiện - Ác, nhục - vinh. Dưới con mắt mọi người chị nhận được sự nể trọng mà chị linh cảm giống như sự quí trọng phiên bản của một cổ vật trong viện bảo tàng. Chị tự hào về ông nhưng trong thâm tâm chị thấy cái đạo lý được truyền giảng bằng ngôn ngữ thơ ca ấy đã quá lỗi thời. Nó chẳng khác nào buộc con người đang sống ở cuối thế kỷ XX này phải ăn mặc, để râu tóc giống như người của hơn một trăm năm trước. Chị tưởng tượng bây giờ nếu chị khoác lên người cái áo tứ thân, quần đáy xẹo thay cho chiếc áo bà ba tay ráp, quần đáy giữa ống 18, 20 phân chị đang mặc thì chắc trông buồn cười lắm. Ngay như cuộc chiến tranh hôm nay so với thời ông sống đã khác xa đến mức nào. Cho dù tính chất của nó vẫn là một nhưng hình thái, qui mô, kể cả thủ đoạn kẻ thù mà ở thời ông không thể nào tưởng tượng nổi. "Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy". Sự phân định rạch ròi ấy đã không còn rạch ròi nữa khi mà cái xã hội chị đang sống biết bao người đi với Phật vẫn ung dung khoác áo giấy và kẻ song hành với quỷ Sa tăng vẫn ngang nhiên mặc áo cà sa!
Ước muốn thoát khỏi cái vòng tròn luân lý mà càng lúc chị càng thấy nó nhỏ hẹp và bức bối ấy dâng lên mạnh mẽ trong chị. Trái với ý muốn của ông nội, sau khi đỗ bằng Cử nhân chị đã xin dạy ở một trường tỉnh. Tuy vậy ông vẫn tin cẩn trao chị tờ di chúc: Chị sẽ thay ông gìn giữ, coi sóc ngôi từ đường và những di vật mà ông cố chị để lại. Điều này đã gây cho chị sự ngạc nhiên mà mãi sau này chị mới vỡ ra và khâm phục ông như một vị tiên tri. Cha mẹ chết sớm bỏ lại ba anh em chị cho ông nuôi nấng, dạy dỗ từ lúc chị lên mười và đứa em trai mới tròn ba tuổi. Dù không nói ra nhưng chị hiểu gần đây sức khỏe ông xuống dốc trầm trọng vì việc anh Hai chị đã tự ý thi vào trường võ bị Đà Lạt. Biết được điều đó nên những lúc về thăm ông, chị không hề hé môi những tin tức chị biết được về anh và tuyệt nhiên ông cũng không nhắc đến. Không biết ông viết bản di chúc từ lúc nào, khi trao cho chị là lúc ông bệnh nằm liệt giường, chị đã xin nghỉ phép để về phụ đứa em chăm sóc cho ông. Đó là những ngày cuối cùng chị ở bên ông. Lúc ấy ông không nói được lời nào, chỉ những giọt nước mắt chảy xuống vành tai khô quắt. Chờ ông qua cơn xúc động chị hỏi sao ông không để lại cho cháu trai mà giao cho chị trong khi chị là "nữ nhân ngoại tộc". Và như vậy liệu sau này có sự rắc rối không? Hay có lẽ giải pháp ổn thỏa nhất là tương phân. Ông nói:
- Nội giao cho con là giao trách nhiệm. Quyền lợi thì có mà rất ít nhưng nếu nhìn cách nào đó thì nó là vô giá. Trách nhiệm rất lớn lao, quyền lợi vô giá! Đã vô giá thì làm sao có thể tương phân. Còn tại sao nội giao cho con thì sau này con tự hiểu. Nội tin là nội làm đúng.
- Nhưng con có ở đây đâu? Làm sao con có thể ở nơi khác mà chăm sóc ngôi từ đường, hương khói ông bà được?
Ông ngước nhìn chị, đôi mắt đã mờ đục. Một thoáng, ánh mắt mờ đục ấy lại hướng sang cái đèn bong bóng đang tỏa ra thứ ánh sáng leo lét trên bàn thờ. Chị quá ngạc nhiên và bất giác trong chị lóe lên một linh cảm không lành về sự tỉnh táo của ông.
- Rồi con cũng sẽ quay về thôi, khi mà điều con đang tìm càng lúc càng thấy xa.
Tờ di chúc ông viết bằng chữ Nôm, có đóng dấu triện son, dấu triện mà ngày xưa ông cố chị đóng trong mỗi bài thơ. Ông nội không làm thơ nhưng giữ dấu triện như một báu vật. Có lẽ đây là lần đầu tiên ông sử dụng nó. Chị hiểu tờ di chúc có đóng dấu triện son này đã trở nên hết sức thiêng liêng đối với ông. Nó biểu thị niềm tin tuyệt đối với người được chọn để giao bảo vệ, giữ gìn và lưu truyền truyền thống, đạo đức của tiền nhân.
Khó mà đoán được nét chữ trong bản di chúc là của một nông dân. Chân phương mà đẹp sắc sảo. Chị nhớ năm học lớp đệ nhị, khi xem thấy tập vở chị viết cẩu thả ông đã kể cho chị nghe bài học về nhân cách thể hiện qua nét chữ mà ông cố chị đã dạy ông. Từ lúc nhỏ ông đã được ông cố giao nhiệm vụ sao chép lại những bài thơ, bài phú mà ông cố đã sáng tác. Những bài ấy được viết từ những mảnh giấy rời với nhiều khổ khác nhau tùy ở mỗi hoàn cảnh, giờ sẽ được sao vào trong những quyển có cùng khuôn khổ, giấy mỏng và ở gáy được cặp bằng hai nan trúc. Việc sao chép này là nhằm lưu giữ, hạn chế khả năng thất lạc mà mỗi trước tác đều mang dấu ấn của lịch sử hay của cuộc đời ông, nhưng điều quan trọng là rèn luyện chữ viết cho con. Theo ông nét chữ có thể nói lên phần nào tính cách của người viết. Khuôn thước là người cứng nhắc, khô khan; cẩu thả, rối rắm biểu hiện sự nhỏ nhen, ti tiện; lả lướt, bay bướm là của kẻ tài hoa nhưng cao ngạo. Ông muốn con mình phải rạch ròi, dứt khoát trong từng nét sổ, nét ngang nhưng phải phóng túng, khoáng đạt chứ không phải là sự gò gẫm cố tạo. Một khi ý thức được điều này, chịu khó luyện rèn thì cũng chính là ta luyện rèn nhân cách vậy. Lúc ấy chị đã cười, cười thầm thôi, điều ông kể. Chị cho rằng cái quan niệm kia không đúng, hoặc nếu có đúng thì đã quá cũ, lỗi thời. Thời của chị chữ viết chỉ là phương tiện, là ký hiệu diễn đạt những điều mình cần biết hay cần nói với người khác. Tuy vậy bài học ấy đã để lại dấu ấn khó quên trong chị. Không đồng tình với lời khuyên của ông nhưng chị đã thức nhiều đêm cố gắng sửa lại nét chữ của mình, đơn giản chỉ là sự tôn trọng những người đọc nó. Chị không thể chịu nổi hàng ngày báo đăng nhan nhãn bút tích của người này, người nọ toàn những vị có uy thế trong xã hội, biết nhiều thứ ngôn ngữ nhưng chính ngôn ngữ mẹ đẻ thì lại viết sai bét, tự tiện gạch xóa lung tung. Chị không nghĩ rằng họ không biết mình viết như vậy là sai, là cẩu thả nhưng đối với họ đó là sự tự biểu hiện quyền lực và tính lập dị của mình, để đập vào trí nhớ người đọc coi như một nét của tính cách.
Sau khi ông nội qua đời chị đã rời khỏi ngôi từ đường, dẫn đứa em trai lên tỉnh. Trách nhiệm trước mắt của chị là nuôi cho nó ăn học thành tài. Chị không nỡ để đứa emtrai mới mười lăm tuổi sống một mình trong căn nhà cổ kính, tự bươn chải nuôi thân giữa lúc bom đạn có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Chị gởi ngôi từ đường lại cho ông Tư Mạnh, ông từ của ngôi đình làng ở chếch phía bên kia lộ. Ông Tư Mạnh là người hàng xóm thân thiết, đúng hơn ông tự coi mình là con cháu của ông cố chị - Nhà-thơ-nhân-dân. Gởi chẳng qua là chỉ có tiếng nói cho phải phép chứ thời buổi chiến tranh nếu không may bom pháo nã trúng thì ông Tư cũng đành bất lực. Còn nạn trộm cắp hay quấy phá của bọn trẻ thì hầu như không thể xảy ra. Đối với người dân ở đây ngôi nhà này là chốn linh thiêng, bất khả xâm phạm, và mặc nhiên họ có ý thức giữ gìn. Và sự tự ý thức ấy cũng chính là niềm tự hào của họ.
Còn chị, chị có con đường riêng của chị. Chị muốn kiến tạo cho mình một nền tảng, một cách sống khác phù hợp với thời đại chị đang sống chứ không phải cái nền tảng được thiết lập từ thời ông cố chị. Chị không muốn mình cứ vin mãi vào cái vầng hào quang của ông. Chính từ ý thức đó chị đã đến với Phú.
*
* *
Chị yêu Phú không phải vì Phú đẹp trai hơn những sinh viên cùng khóa đã từng đeo đuổi chị. Mặc dù với thân hình cân đối của một vận động viên cử tạ, đôi mắt sáng, mái tóc dài quăn tự nhiên Phú là mẫu người hấp dẫn nhiều cô gái. Cũng không phải vì Phú là con của một vị nghị sĩ nổi tiếng. Chị đến với anh chỉ vì anh dám từ bỏ cái vầng hào quang của người cha để đi theo con đường riêng rẽ, tự chọn. Năm học thứ ba đại học Phú là một trong những sinh viên xuống đường phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam hăng hái nhất. Đã nhiều lần anh bị bắt rồi được tha do sự bảo lãnh của cha. Nhưng sau những lần ấy anh lại tham gia hăng hái hơn ở mức độ tổ chức qui mô hơn. Hành động này nhằm chống lại chính sự bảo lãnh của cha anh. Anh muốn bứt khỏi bàn tay tỏa hào quang ấy. Và cũng sau bao lần che chở cho con, bàn tay phù phép của người cha cũng mất đi ít nhiều linh nghiệm. Uy tín bị mất mát, địa vị ngày càng bị lung lay, ông từ mức dỗ dành, khuyên nhủ chuyển sang tuyên chiến, trút sự hằn học lên đầu đứa con trai độc nhất. Những trận khẩu chiến nảy lửa của hai thế hệ, hai quan niệm luôn xảy ra trong ngôi nhà ba tầng khi họ chạm mặt. Cuối cùng thì bàn tay phù phép phải biến hóa để vầng hào quang không bị lu mờ. Ông viết bản từ con đăng trên báo, nhờ cơ quan ngôn luận bảo vệ uy tín cho mình. Dĩ nhiên đó chỉ là về mặt pháp lý, mang tính xã hội. Còn gia đình ông chẳng cấm anh đi về, ăn uống, sinh hoạt trong ngôi nhà ba tầng này. Với Phú, anh cũng thôi không đấu khẩu với cha nữa bằng cách tránh chạm mặt ông. Anh nghĩ rằng bản từ con được đăng trên báo kia chính là lời tuyên bố của một người tự biết rằng mình bất lực.
Chính trong những ngày ấy họ đã tìm đến nhau. Họ gắn bó bởi hai trái tim đồng cảm. Lúc ấy chị đã giấu ông nội. Chị biết việc chị tự quyết định đời mình là đi ngược lại, hay đúng hơn là phá vỡ cái đạo lý mà ông nội là người tử thủ. Chị không muốn thấy ông đau buồn trong đoạn cuối của cuộc đời. Nhưng với gia đình Phú thì không thể giấu được. Vả lại tính khí cũng như hoàn cảnh của Phú cũng khác chị. Ngài nghị sĩ đã cương quyết bỏ mặc cuộc đời anh, nhưng mẹ anh thì không thể. Trong việc bất đồng giữa hai cha con bà là người thứ ba, và là người duy nhất để rơi nước mắt vì không đủ khả năng hòa giải. Người đàn bà ở hai cương vị làm vợ và làm mẹ là hai đầu chiếc đòn gánh trĩu nặng. Bà âm thầm chịu đựng, chỉ mong trong mọi hành động chăm sóc, vỗ về của mình là nhịp cầu nối liền lại tình cha con. Vậy mà trong việc Phú chọn người bạn đời là chị bà không thể im lặng. Bà không giành quyền chọn vợ cho con nhưng bà không chấp nhận con dâu của mình đã "tiền dâm hậu thú". Tệ hại hơn, bà tỏ thái độ khinh bỉ ra mặt khi biết chị là con cháu của nhà thơ đạo lý mà bà vẫn luôn ngưỡng vọng. Chị cảm nhận nỗi đau như vết thương sâu hoắm chưa kịp kéo lớp da non đã bị bà dùng que chọc ngoáy vào nó không hề thương tiếc. Chị không ngờ rằng với vẻ bề ngoài của một gia đình ảnh hưởng nếp sống Tây phương này lại có môn đồ trung thành tuyệt đối đạo lý trong thơ ca của ông cố chị. Bà đã dùng chính nó để quật lại người mang huyết thống của ông nhưng muốn bứt khỏi cái vòng luân lý của ông. Chị tin đó không phải là sự giả dối, bà lợi dụng nó để chối bỏ chị vì một duyên cớ khác như thân phận của một con bé mồ côi, nhà nghèo. Nhưng dù là với động cơ nào đi nữa thì sự thật là chị đang đụng phải cái thành trì kiên cố mà từ lâu chị ước mong phá vỡ.
Phú lại bị bắt trong một cuộc xuống đường phản đối Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam , trước ngày ra trường một tháng. Lần này thì ông nghị sĩ đã làm ngơ. Vì là một trong những người cầm đầu nên Phú bị biệt giam để thẩm vấn. Chị quyết định về quê dạy học sau khi ra trường để chuẩn bị cho cuộc sống lứa đôi với nhiều dự định khi Phú được thả.
Sự thuận lợi đã đến với chị ngoài sự mong chờ. Ngành Giáo dục xem việc ưu đãi đối với chị là niềm vinh dự không phải vì cái bằng Cử nhân hạng ưu mà chỉ vì chị là dòng dõi của nhà thơ tải đạo. Cuối cùng thì chị cũng dựa vào hào quang của ông cố! Dẫu chị có quyền thừa hưởng nhưng khi đối diện với chính lòng mình chị cảm thấy hổ thẹn, và bực tức. Tại sao điều mà chị muốn bứt khỏi lại càng lúc càng vây lấy chị? Phải chăng chị không đủ tài năng và bản lĩnh? Những câu hỏi cứ giày vò tâm trí để rồi cuối cùng chị phải vin vào điều an ủi là mình chưa có thời cơ. Và muốn tạo được thời cơ, bước đầu chị phải chấp nhận cái di sản tinh thần mà ông cố để lại. Chị phải cố nén cái khó chịu khi mọi người xem mình là một phiên bản của ông. Chị hy vọng ở Phú. Ngày Phú ra tù cũng chính là lúc anh hoàn toàn không phụ thuộc vào vầng hào quang của người cha. Và anh cũng sẽ bứt khỏi sự ràng buộc về lễ giáo của mẹ. Khi ấy chị và Phú sẽ là hai kẻ song hành trên con đường từ lâu họ vạch sẵn.
*
* *
Mảnh trăng liềm mùng bốn đã lặn. Khu xóm nhà chị hiện ra rực rỡ ánh điện. Ngay ở đầu làng chị đã thấy ánh lên những dãy đèn màu chớp tắt từng hồi ở trước ngôi nhà chị. Không biết sao cứ mỗi lần nhìn thấy nó là chị liên tưởng đến nhịp đập của trái tim đang cơn hấp hối. Cố xua đi sự liên tưởng nhuốm màu đen tối ấy nhưng chỉ ít giây sau là nó lại hiện đến. Rồi tiếng nhạc Pop - Rook phương Tây được những chiếc loa thùng khuếch đại mà âm sắc của nhiều loại nhạc cụ như muốn chọc thủng vào màng nhĩ mỏng manh, yếu ớt của chị. Trong rừng âm sắc ấy, đặc biệt tiếng trống bass như bàn tay vô hình cứ từng chặp, từng chặp bóp chặt trái tim, làm chị nghẹt thở. Đã từ lâu chị muốn thoát khỏi nó nhưng không sao thoát được khi tất cả những thứ ấy xuất phát ở chính trong ngôi từ đường của gia tộc chị. Người chủ xướng là đứa em trai, chủ nhân quán bia ôm đang hồi phát đạt.
Bé Trâm đã ngủ trên tay chị. Lời kể chuyện rời rạc, vô vị vì tâm trí chị ngoặt sang hướng khác làm nó không chống chọi được với cơn buồn ngủ. Nó đã ngủ gật trong lúc bước đi. Chị ẵm nó trên tay lúc gần tới đầu làng. Bây giờ tiếng nhạc càng lúc càng ầm ĩ cũng không làm nó thức giấc. Không hiểu trẻ con dễ ngủ say hay do tâm hồn nó đã quá quen với âm thanh cuồng nộ ấy giống như trẻ con thời trước quen với tiếng hát ru?
Lại một cơn gió lướt qua làm chị rùng mình.
3
Giấc ngủ không đến với chị. Dù đã đóng kín cửa ngoài, cửa buồng cũng được khép chặt nhưng những âm thanh hỗn tạp ở quán bia trước nhà vẫn dội đến nhức óc. Thật ra tiếng nhạc phát ra từ hai chiếc loa bây giờ phần nào êm dịu hơn. Có lẽ Thái - em trai chị đã lắp những đĩa nhạc không lời thay cho âm thanh cuồng nộ vì đêm đã về khuya. Chính vì vậy mà nó không át được cái âm lượng the thé, mỏng vánh của cô tiếp viên lẫn trong tiếng lè nhè, ưa bứa cùng tiếng gõ lanh canh của những chiếc đũa vào chén dĩa được những thực khách biểu diễn. Đúng ra tất cả những âm thanh ấy đêm nay không phải là nguyên cớ đuổi xua giấc ngủ đến với chị. Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh ông Tư Mạnh hiện đến. Choáng ngợp trong tâm trí chị vẫn là cái dáng vẻ gầy gò, lặng lẽ như chiếc bóng. Dân làng từ lâu đã quên ông. Nói quên không có nghĩa tất cả hình dáng, tên tuổi, hành động ở một con người nào đó đã hoàn toàn tuột khỏi bộ nhớ hay nó đã bị nhốt kín trong cái ngăn kéo của tiềm thức mà khi gặp lại ta không hề nhận ra. Đối với ông lão, thái độ của họ chỉ là sự lơ đễnh. Họ xem cái việc quì lạy cầu mặt trời lên mỗi sáng của ông là gàn dỡ không mảy may ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm hay mọi sự sinh hoạt liên quan đến cuộc sống của họ. Có ông hay không có ông thì mặt trời mỗi sáng vẫn mọc lên, và tâm hồn họ cũng không vì thế mà cảm thấy vui hơn hay buồn hơn. Nhưng với chị cái chết của ông lão là nỗi mất mát quá lớn. Hình ảnh ông đêm đêm xách chiếc đèn lồng đi ra giếng hộc sau đình, rồi cái tư thế chết của ông lúc sáng luôn chập chờn trong đầu chị. Chị hiểu nó sẽ là hình ảnh ám ảnh chị suốt đời. Chị cảm thấy có lỗi với vong linh ông nội khi tâm trạng hôm nay không hề có trong chị lúc ông mất. Điều đó chị cũng không hiểu tại sao!
Hồi sáng thằng bé chăn trâu kể với chị rằng: Bởi tối qua nó lén ba nó đi hát karaoké về khuya, sáng ra sợ bị đánh đòn nên nó lùa trâu ra đồng ăn sớm. Qua nổng cát nó thấy ông lão đầu tóc xõa tung, mặt quay về phía cánh rừng sát mé biển, nơi mà lát nữa mặt trời sẽ mọc lên, đang quì lạy. Đây không phải là lần đầu thấy ông ở dáng điệu ấy nên nó không hề ngạc nhiên hay sợ hãi. Nó chỉ cảm thấy ngồ ngộ và lòng dậy lên sự thích thú giống như nó đang xem một tiết mục xiếc trong ti-vi. Nó chợt nảy ra ý định chọc ông lão, chỉ là để tăng thêm sự khoái chí chứ không hề có ác ý. Ngồi trên lưng con trâu cổ, nó lấy hết sức bình sinh, đến mức gập cong người lại mà la:
- Mặt trời là của tui!... Mặt trời là của tui!
Ông lão giật bắn mình, toàn thân ông run rẩy. Ông quay mặt lại phía nó. Nó nhận ra gương mặt ông như choắt lại, méo mó. Tiếng ông lão khàn đi, dường như thanh quản phải chịu bất lực trước ý muốn của ông.
- Mặt trời là của tao!... Mặt trời là của tao!... Mặt trời là của tao!...
Một trò chơi mới không kém phần thú vị! Thằng bé không ngờ ông lão đã hưởng ứng dễ dàng đến như vậy. Điều đó đã kích thích thêm sự hứng khởi, nó dò trâu lại, ngoặt sang chỗ ông lão đang quì miệng tiếp tục la: "Mặt trời là của tui...".
Đến bây giờ nó mới thấy mặt ông lão xanh tái như không còn chút máu, từng thớ thịt nhăn nheo trên đôi gò má giật giật, mắt long lên dữ dội, đỏ vằn những tia máu đỏ. (Sau này nó mới hiểu đó là biểu hiện của sự đau đớn tột cùng). Lúc ấy nó cảm thấy hoảng, vội giục trâu đi nhanh. Tiếng gào của ông lão như cứ rượt đuổi theo nó. Đi được một quãng nó quay lại thấy ông đang cúi rạp mình xuống đất, cùng lúc với hai tiếng "Mặt trời..." rồi không nghe tiếp và cũng không thấy ông lão ngóc đầu dậy nữa.
4
Từ xa chị đã thấy những chiếc xe bò chở đầy cát, đá đổ thành đống ở bên hông nhà từ đường. Chẳng lẽ Thái định mở rộng quán bia?
Những năm gần đây bộ mặt làng quê của chị thay đổi rất nhanh. Đường sá được mở rộng, thông thoáng. Điện về phủ khắp thôn xóm. Những ngôi nhà tường với nhiều kiểu kiến trúc hiện đại liên tiếp mọc lên rút ngắn dần cái khoảng cách giữa nông thôn với thành thị. Điều này bỗng dưng gợi chị nhớ đến cái đêm ông nội chị trút hơi thở cuối cùng. Đó là đêm trong chiến tranh, làng quê chị như oằn xuống bởi những tiếng pháo đề-pa âm âm xa vắng mà mục tiêu của nó mang đến tiếng nổ hủy diệt luôn là sự bất ngờ. Nó oằn xuống bởi ánh trăng hạ huyền nhàn nhạt phủ lên những ngôi nhà đổ nát, những cây dừa cụt đọt, những bụi tre trốc gốc đổ nghiêng. Và trong cảnh hiu hắt hoang tàn đó cứ chốc chốc tiếng con chim heo kêu thét giống như tiếng la riết róng của chú heo con bất ngờ bị mũi dao của tên đồ tể thọc huyết. Ông nội chị đã ra đi trong một đêm như thế trong ngôi nhà ba căn mà hôm nay ngập tràn ánh điện, nhưng lúc ấy chỉ là một quầng sáng lờ mờ của chiếc đèn bong bóng. Có lẽ cả đời ông chưa lần nào tưởng tượng được làng xóm này, ngôi nhà này rực lên bởi thứ ánh sáng điện khí mà lúc ấy nó là biểu trưng của chốn đô thành.
Nỗi buồn ngấm ngầm như chất cường toan ăn mòn càng lúc càng khuyết sâu trong lòng chị kể từ khi đứa em trai dựng lên quán bia nơi khoảng sân trước nhà. Đó là một khoảng đất rộng, phía bên trái có đặt chiếc bàn hình chữ nhật được ghép bằng những tảng đá ong. Đây là di vật của ông cố chị. Mưa nắng hơn một trăm năm qua đã xói mòn mặt đá loang lổ giống như tổ hà trong thân gỗ bị ngâm lâu. Màu đá đã chuyển sang màu gạch nung già lửa. Dưới chân hai phiến đá trụ rêu bám một lớp khá dày, màu đen xỉn. Ông nội chị lúc còn sống quí chiếc bàn này lắm tuy rằng lúc ấy nó cũng đã trở nên vô dụng rồi. Ông nói rằng đó là nơi ông cố ngày xưa vào những đêm trăng sáng đã cùng những nhân sĩ thưởng hoa, vịnh nguyệt và bàn thế sự. Nó cũng là chứng tích cuộc hội kiến của ông với vị chủ tướng nghĩa quân chống Pháp nổi tiếng lúc bấy giờ. Vị này từ tỉnh khác bí mật đến thăm ông trong lớp áo của một vị đạo sĩ.
Ngay lúc khởi công dựng quán Thái định đập bỏ. Nó nói:
- Thời buổi mà mỗi thước vuông đất mặt tiền có thể đẻ ra vàng cây, còn để cái bàn đá loang lổ này ở đây là một sự lãng phí.
- Nhưng đó là di tích của ông cố. Không những nó có giá trị đối với chị em mình thôi mà nó còn là vật quí của họ tộc.
- Không thể ôm giữ khư khư cái vật rêu phong cổ lổ ấy trong lúc bụng đói meo, nó réo sôi lên đòi hỏi phải có thịt, có cá. Chị có đủ dũng cảm chấp nhận khi sống trong một quần thể mà mọi người xung quanh ai cũng cơm no áo ấm, hưởng đủ mọi lạc thú trên đời còn chỉ có gia đình chị, trong đó có bản thân chị dù có lao động cật lực thì cơm thôi cũng không đủ no bụng huống hồ chi nói tới những nhu cầu khác. Vậy mà với mọi người chị phải nén đi cái đau có thật ấy để nở nụ cười dương dương tự đắc, chỉ vào cái bàn ấy mà nói với mọi người: "Tôi vô cùng hạnh phúc vì tôi có nó. Tôi khinh bỉ cái vỏ giàu sang hào nhoáng của các người". Chị có đủ can đảm chấp nhận điều đó không?
Chị nhìn Thái sửng sốt và lạ lẫm như chưa từng biết nó. Đứa em trai của chị đây sao? Thằng bé cút côi, đầu khét nắng, đôi mắt lúc nào cũng nặng trĩu nỗi buồn pha lẫn nét sợ hãi, sống lủi thủi với ông nội từ thuở lên ba đây sao? Chị cố hình dung để hy vọng bắt gặp mối liên hệ giữa gương mặt ấy, ánh mắt ấy với sắc mặt, ánh nhìn của Thái - chàng kỹ sư pha chế thuốc trừ sâu đứng trước chị bây giờ, nhưng bất lực. Bất chợt chị nhận ra nó chỉ đọng lại phảng phất không phải trong nguyên bản mà là ở bé Trâm, một sinh linh bé bỏng tiếp nối sự sống và thừa hưởng gien di truyền kia.
Chị nói mà nghe cổ họng mình khô đắng:
- Chị không hề có ý phản đối em kinh doanh mua bán để làm giàu. Chị chỉ không hài lòng khi em mở nhà hàng bia ôm và vì nó mà em phá bỏ cái bàn đá ấy. Là con cháu của ông cụ em nghĩ sao khi đó là nơi từng tạo nguồn cảm hứng để ông viết nên những vần thơ đầy khí khái, những câu thơ thấm đẫm đạo lý làm người bây giờ trở thành chỗ ăn chơi, mua bán khóe mắt, làn môi, những cái vuốt ve thô lỗ, tục tĩu của thực khách. Phải chi em dựng lên cửa hàng bán thuốc trừ sâu, phân bón thì vừa phù hợp với nghề nghiệp của em vừa không phải phá bỏ cái bàn đá của ông cố.
Thái cười nhạt, cái cười làm chị gai lạnh sống lưng.
- Chị nói rập khuôn giọng điệu của các nhà mô phạm thích "lập ngôn". Nhưng dù chị có uốn giọng cách mấy thì nó cũng chỉ vừa tầm sự sướt mướt của một cô giáo đứng trên bục giảng nói với lũ học trò chưa hề biết động cỡn là gì! Nó có thật lòng không khi mà chính chị đã từng muốn chối bỏ nó, thậm chí lên án nó là một nền đạo lý quá khắt khe và cũ kỹ. Chị đã vượt rào trước chứ nào phải tôi. Còn chuyện kinh doanh tôi cho rằng giữa bia ôm với thuốc trừ sâu không có gì khác nhau cả. Chung qui chỉ là phục vụ theo cái nhu cầu mà từng loại khách hàng cần có, khác chăng chỉ là nguồn lợi do nó đem lại. Và tôi chọn cái sẽ đem lại nguồn lợi nhiều và nhanh nhứt. Việc tôi định phá bỏ cái bàn đá rêu phong ấy chị hãy thử liên tưởng: Nếu có một phép thần thông nào làm ông cố sống dậy, ông nói rằng: "Các cháu hãy ráng nhịn đói chứ đừng nên phá bỏ cái bàn đá của ta, cho dù nó trở nên vô dụng và mất vẻ mỹ quan. Những gì của ta đều là bất khả xâm phạm, các cháu có thể rũ chết nhưng ta phải tồn tại!". Chị nghĩ sao nếu ông nói như vậy? Nhưng thôi, tôi sẽ không tự ý nữa vì dù sao cũng còn anh Hai. Là thành viên của gia đình tôi sẽ tôn trọng ý kiến biểu quyết của số đông.
Cảm giác thảng thốt của người đi trên cầu bất ngờ hụt chân rơi xuống khoảng không sâu hút của lòng sông mà nó thường đến trong mơ lúc này ùa đến với chị. Bàng hoàng như vừa tỉnh cơn ác mộng, làm chị nghẹn ứ trong cổ. Chị không muốn khóc nhưng sao nước mắt cứ chực trào ra. Không để ý tới người anh đang gật gù, lảm nhảm những lời gì đó bên bàn rượu, chị chạy biến vào buồng khóa trái cửa. Đã từ lâu chị không muốn để ai thấy nước mắt của mình.
*
* *
"Chị đã vượt rào trước chứ nào phải tôi". Như vậy chị chính là kẻ chủ mưu trong sự biến đổi nền nếp gia phong này? Điều mà Thái nói và làm là sự đảo lộn chứ đâu còn là sự biến đổi! Phải chăng trong nhận thức của Thái nó thật sự vô tư và nhiệt tình dấn bước trên con đường mà chị là người khai mở? Hay đó chỉ là sự ngụy biện của kẻ ý thức quá rõ hành động của mình, dựa vào chủ trương của người khác, lợi dụng và bóp méo nó để chống đỡ. Dù cố huy động hết khả năng của lý trí lẫn tâm hồn của một người chị để hiểu đứa em cùng chung huyết thống chị cũng không thể hiểu được Thái thuộc diện nào giữa chú nai tơ và lão cáo già. Những lời nó nói ra vừa là sự biện hộ cho nó vừa là sự nhục mạ đối với chị không làm chị đau mà nó giống như một chất men làm nồng thêm nỗi cô đơn. Cảm giác rã rời và trống rỗng ấy hơn một lần chị đã trải qua.
Đó là lúc Phú trở về tìm chị sau gần hai năm kể từ ngày anh bị bắt. Khoảng thời gian ấy ngoại trừ mấy lần chị đi thăm anh ở trại giam sau đó thì chị không biết gì về tin tức của anh nữa. Lần đi thăm cuối cùng người ta từ chối nhận quà chị gởi, họ báo là anh được thả hôm thứ Ba tuần trước. Linh tính báo cho chị biết một điềm gì đó không lành bởi nếu được thả sao Phú không về quê tìm chị, cũng không một dòng thư. Chị hốt hoảng tìm đến nhà gặp cha mẹ anh và được họ trả lời "không biết" với thái độ nửa thờ ơ nửa tỏ ra bí hiểm. Chị thất thểu quay về trong nỗi tuyệt vọng lẫn hoài nghi. Lẽ nào anh đã bị họ bí mật chuyển trại và biệt giam như những tù nhân chính trị quan trọng? Lẽ nào ba anh lại phó mặc trong tình huống như vậy cho dù cơn giận anh vẫn chưa nguôi và trước đó ông đã đăng báo từ anh? Lẽ nào ông coi chiếc ghế nghị sĩ Thượng nghị viện cao hơn cả sinh mệnh đứa con trai duy nhất của ông. Hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con nữa là... Hay Phú đã được thả và trong chuyện này có điều gì bí ẩn mà chị không thể nào hiểu nổi? Những câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu càng lúc càng trở nên rối rắm bởi chị không tìm được sự lý giải nào khả dĩ làm chị yên tâm. Điều mà chị cần biết lúc này là tính mạng của Phú. Chị chỉ cầu mong cho anh được bình yên, còn tất cả chị đều có thể chấp nhận được bởi chị tin ở tình yêu của anh. Chị tin anh như tin ở tình yêu của chị vậy.
Gần hai năm chị sống trong nỗi khắc khoải chờ đợi Phú, cũng là khoảng thời gian chị lao vào thực hiện một kế hoạch mà từ lâu hai người đã vạch sẵn. Chị đã tìm được gần hết những tài liệu cần tham khảo để khi về anh có thể bắt tay vào viết quyển sách mà anh hằng ấp ủ. Trong danh mục ấy có những quyển của Nietzsche, của Kant, Freud và cả của Marx.
Rồi tất cả đã sụp đổ đến mức nghiệt ngã khi Phú quay về gặp chị trong bộ quân phục sĩ quan quân đội Sài Gòn mang quân hàm trung úy. Anh giải thích rằng sở dĩ anh không gởi cho chị một dòng tin tức nào vì anh muốn gây cho chị sự bất ngờ thú vị, giống như sự bất ngờ anh gặp phải, mà chính nó đã làm thay đổi đời anh.
- Em biết không, một cú sốc bất ngờ, đau đớn đối với anh là thằng thượng sĩ trực tiếp thẩm vấn anh không ai khác hơn là thằng Đẹt - Phú thì thầm vào tai chị sau một trận hôn tới tấp, ướt át và bây giờ anh vẫn đang siết chặt chị vào lòng. Bàn tay phải của anh vẫn say sưa trên ngực trái chị - Nó là thằng học chung với anh hồi tiểu học, dốt như bò luôn bị thầy bắt thụt cá kèo. Ông già nó là trưởng chi cảnh sát quận, chắc là chạy chọt lắm mới đưa nó vào được đó. Anh không trách nó làm mặt lạ, chỉ ghét cái thói hống hách, hoạnh hẹ, kẻ cả của nó khi hỏi cung anh. Anh tức điên lên. Nó là hạng gì mà lên mặt...
Tai chị ù đi, không nghe được gì nữa. Cái cảm giác người bị hụt chân giữa cầu đang rơi xuống mặt sông trong những giấc mơ lại đến trong chị. Mắt chị mở to và ráo hoảnh trong đêm tối. Phú trườn lên người chị với vẻ khát khao, cuồng nhiệt nhưng nó giống như những lượn sóng ào ạt chồm lên bãi đá trơ lì.
Chưa lúc nào chị cảm thấy nỗi cô đơn trĩu nặng đến như vậy. Chị không biết cái giá mình trả là cho sự bồng bột hay cho niềm tin của mình bị lợi dụng. Nhưng cho dù nhẹ dạ hay cả tin thì chị cũng không hối hận. Bởi chị đã sống thật lòng mình, và sự mất mát có giá trị như cuộc đánh đổi để chị nhận chân sự thật.
Cuộc ái ân với Phú lần này chị bỗng nhận ra anh không còn lại gì trong chị nữa.
5
Bước những bước nhẹ nhàng để không gây tiếng động, chị vượt qua khỏi bộ ván nơi phát ra tiếng ngáy vang to cùng với vùng không khí nặc nồng mùi rượu trộn lẫn thức ăn đang được tiêu hóa thoát ra từ những tuyến bài tiết của người anh, chị rón rén mở cửa. Làn không khí mát rượi, trong lành tràn vào người làm chị thấy dễ chịu. Chị nhận ra trong đó thoang thoảng mùi hương dạ lý. A, chậu hoa của lão Mạnh tặng chị mấy hôm trước được đặt nơi góc phải hiên nhà đây mà! Chị hít thật sâu. Cảm giác buồn nôn khi nãy biến mất. Chị đi về phía ngôi đình. Trăng thật sáng. Giờ này chắc ông lão còn thức. Mà có lúc nào lão ngủ vào ban đêm đâu. Lâu lắm rồi. Vào những đêm nỗi buồn dâng đầy và cái bóng tối của gian buồng như đồng lõa làm chị thấy ngạt thở như đêm nay chị hay đến với ông. Có khi chỉ là ngồi im lặng trong bóng đêm ngoài mé hiên đình. Cũng có lúc ông kể cho chị nghe những câu chuyện rời rạc, không đầu không cuối, lâu ngày nối kết lại chị mới vỡ ra được nhiều điều. Vậy mà thật kỳ lạ, những giờ phút ngồi bên ông lòng chị cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản hơn. Còn ông những đêm có chị, nhất là đêm có kể chuyện gương mặt cũng bớt phần căng thẳng. Vào những đêm ấy ông ít cầm đèn đi ra giếng hộc sau đình hơn.
- Cô giáo không ngủ à?
Tiếng ông lão vọng ra từ trong vườn kiểng giữa sân đình khi thấy chị bước vô cổng. Chị hơi ngạc nhiên vì thấy ông khác lạ hơn mọi đêm. Thường ông không hề nghe thấy cả lúc chị tới gần. Ngồi thu lu bên chiếc đèn lồng (loại đèn trứng vịt được đặt trong chiếc lồng treo hình trụ bốn mặt được lắp kiếng) trong gian nhà nhỏ ở bên hông đình, ông bất động như pho tượng. Đêm nay ông ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh chậu hoa, chiếc đèn được đặt trên thành chậu.
- Sao bác không ở trong nhà. Sương xuống lạnh lắm!
- Hoa quỳnh sắp nở - Ông lão chỉ vào nụ hoa căng phồng màu sẫm mọc ra từ một ngấn ngoài biên lá quỳnh.
Chậu hoa lọt thỏm giữa khu vườn. Xung quanh nó là những gốc mai chiếu thủy, sung, bồ đề... sần sùi, vặn vẹo nhưng cành lá được tỉa tót cẩn thận. Ở vạt đất phía trái được ông lão xếp thành dãy dài là những chậu cúc vàng, cẩm nhung, tường vi, thược dược, mãn đình hồng... dịu dàng như cô gái dậy thì đầy vẻ tự tin khoe nhan sắc của mình và vô tư trước thời gian. Tất cả cái dáng vẻ phong trần lẫn mơn mởn đó được đẫm trong ánh trăng tạo nên vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa mềm mại.
Có lẽ chính vẻ đẹp đó làm tăng thêm nỗi háo hức chờ đợi cái khoảnh khắc hoa quỳnh nở trong lòng ông lão. Khoảnh khắc huyền diệu của cái đẹp sắp bùng vỡ trong sự tĩnh lặng. Chị hiểu ra khoảnh khắc ấy thiêng liêng với ông lão vô cùng. Nhờ nó mà ông có những phút giây thanh thản, dìm khuất được dù trong chốc lát nỗi ám ảnh khủng khiếp của chiến tranh cứ thường trực hiện đến giày vò ông. Chị không có quyền phá vỡ nó dù hơn ai hết lúc này chị cần ông san sẻ. Từ trong sâu kín của tâm hồn từ lâu chị xem ông là hiện thân của ông nội, bởi dù không nói ra nhưng chị hiểu là ông cảm thông được nỗi buồn của chị. Đối với ông nội, khi chị nhận ra điều này thì đã muộn màng.
Đêm nay chị muốn nói với ông sự việc vừa mới xảy ra trong ngôi từ đường của gia tộc chị. Vẫn biết rằng chị sẽ nhận từ ông lão thái độ im lặng trong dáng ngồi bất động nhưng nói với ông là chị cảm thấy vơi được phần nào. Bây giờ chứng kiến nỗi đam mê quá thuần khiết của ông chị phải cố kìm nén lòng mình để không vì sự vô tình mà phá vỡ hạnh phúc hiếm hoi ấy.
... Thái đã đóng vách be ngăn đôi ngôi nhà, mỗi bên một căn rưỡi. Vợ chồng con cái nó ở một bên, còn chị với người anh một bên. Sự việc tiến hành sau cuộc họp gia đình trưng cầu ý kiến, nó được một phiếu thuận của người anh. Giống như lần cãi nhau với chị về việc phá bỏ chiếc bàn đá anh Hai chị cũng dành phiếu cho nó sau một chầu nhậu thỏa thuê. Từ khi đi học tập cải tạo về anh đã đắm mình trong men rượu. Anh thờ ơ với tất cả chỉ trừ mỗi việc là háo hức trông chờ ngày đi Mỹ theo diện H.O. Ý thức được rằng mình chỉ là kẻ ở tạm nên anh đã phó mặc và sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của Thái để được nó cung phụng đầy đủ theo nhu cầu của cơ thể anh đòi hỏi. Thái thì vin vào sự biểu quyết ấy và yên tâm làm theo ý muốn vì đó là sự biểu hiện của tính công bằng. Nó nói: "Chân lý là ở số đông và số đông thể hiện quyền dân chủ. Tôi chỉ là người thực thi quyền dân chủ đó".
Dù trong đầu đầy ắp những suy nghĩ ấy nhưng chị lại hỏi ông lão một câu chẳng ăn nhập gì khi chợt thấy chậu cây xanh đặt ở hốc trũng luôn ẩm ướt mà dưới ánh trăng chị chỉ thấy lờ mờ:
- Bác không đem cây đó ra ngoài này thoáng hơn?
Lão Mạnh thoáng nhìn theo tay chị rồi lại quay về với nụ quỳnh.
- Mỗi loài cây có chỗ sống phù hợp với nó. Với loại gừa hay cây xanh đó chỉ tốt tươi nơi ẩm thấp, đem nó ra chỗ khô ráo sẽ bị còi cọc ngay, có khi không sống được. Giống như loài chùm gởi cháu có thấy khi nào bám rễ được trong đất đâu? Cũng như hoa quỳnh đây nó chỉ nở lúc giữa đêm thôi!
Ôi, ông lão vẫn không bứt khỏi nỗi đam mê chờ hoa quỳnh nở. Còn chị vẫn không buông bỏ được hình ảnh tấm vách ngăn cùng tiếng búa đóng đinh chan chát lúc sáng. Chị cũng không buông được hình ảnh chiếc bàn đá mà em trai chị, gọi là tận dụng chứ không phá bỏ như ý định ban đầu, đã cạy lên sắp thành bệ che chắn thêm cho chỗ khách tháo trong người ra thứ chất lỏng mà vừa nãy họ uống vào nhưng giờ đã biến chất cần thoát bớt để còn chỗ chứa thêm.
Nghĩ vậy nhưng chị lại hỏi ông lão:
- Sao bác biết đêm nay hoa nở?
- Tất cả đều có sự báo trước. Đây cháu coi - ông xách chiếc đèn lồng rọi gần nụ hoa - Nụ nó căng phồng hết mức, đường viền giữa những cánh hoa lộ rõ, còn ở đầu hoa đã hé. Chỉ cần để ý là sẽ thấy. Vậy mà có người cả đời cũng chưa hề thấy hoa quỳnh nở. Họ chỉ thấy nó đang búp rồi sáng hôm sau đã thấy nó tàn. Thật là bất hạnh!
Ông lão đêm nay lạ quá. Chị không ngờ.
- Bất hạnh cho ai, cho người hay cho hoa hả bác?
- Cả hai! Ờ, mà có khi đó là sự bất hạnh cho hoa thôi!
Có lẽ câu hỏi ngây ngô của chị vừa rồi vô tình chạm đến nỗi niềm sâu kín nào trong lòng, ông lão bỗng im lặng. Ông chăm chú vào nụ hoa trong dáng ngồi bất động. Chị cũng không dám hỏi thêm. Một lúc lâu sau ông ngước nhìn chị, mặt lộ vẻ căng thẳng:
- Hồi sáng bác nghe bên nhà có tiếng gì như là tiếng súng nổ?
Thốt ra mấy tiếng đó chợt tay ông lão run bần bật. Ông xách vội chiếc đèn lồng dò dẫm đi về phía sau đình.
*
* *
Chuyện xảy đến với ông lão từ lâu lắm. Năm ấy làng quê chị luôn bị đe dọa bởi những tiếng súng nổ rộ. Thường sau những tiếng nổ là có người chết mà một lúc sau bọn công an Ngô quyền lôi xác về phơi giữa chợ. Có khi ông chứng kiến cảnh chúng lôi xềnh xệch những thân người đầy thương tích mà còn bị còng tay, bịt mắt. Rồi một ngày chúng chở máy chém về đặt tại ngôi đình nơi ông lão ngày đêm hương khói cho các vị thần. Đình làng biến thành nhà giam và pháp trường. Đêm đêm tiếng kêu gào bị tắt nghẹn giữa chừng bởi tiếng "phập" khô khan. Cứ mỗi lần như thế khoảng năm, mười phút sau là có hai thằng mang súng qua nhà bắt ông Mạnh. Chúng dẫn ông qua bên đình chỉ vào cái xác đã bị lìa đầu bảo ông vác. Một tên tay cầm đèn, tay kia xách chiếc đầu bằng nhúm tóc, một tên bồng súng phía sau ông đi ra phía sau đình, ra hiệu bảo ông quăng xác ấy xuống giếng hộc. Và khi cái thây người nhầy nhụa tuột khỏi tay ông rơi huỵch xuống đáy giếng, tiếp sau là tiếng "bụp" vang âm của xương sọ va vào thành xi măng thì ông không còn đứng vững nữa.
Việc ấy cứ lặp đi lặp lại từ đêm này sang đêm khác. Nỗi kinh hoàng càng lúc càng làm tứ chi ông rũ riệt. Phải uống vào mấy ly rượu ông mới có đủ can đảm bắt tay vào việc. Vậy mà tim ông cứ giật bắn lên mỗi lần nghe tiếng đập cửa rầm rầm cùng tiếng kêu: "Ông Mạnh... Ông Mạnh...". Tay ông bỗng run bần bật, cầm chai rượu rót tràn cả ngoài ly, có khi rớt xuống đất.
Đêm sao mà dài ghê gớm. Đã bao đêm rồi ông không hề chợp mắt. Những hình ảnh vừa qua cứ hiển hiện, quay cuồng. Điều duy nhất của ông lúc này là mong trời sáng. Chỉ khi mặt trời hé mọc lên thì thảm cảnh kia mới ngừng lại. "Ừ, bóng tối là của chúng bây, còn mặt trời là của tao! Mặt trời là của tao!" - Ông luôn lẩm nhẩm như vậy.
Những cái xác lìa đầu chất chồng dưới giếng. Ban ngày người thân đến nhận moi lên để rồi đêm đến nó lại chứa thêm những xác mới. Cũng do chính đôi tay ông lão quăng xuống... Như ngây dại, cứ chốc chốc ông xách đèn lồng đi ra giếng rọi xuống. Sự thật mà! Xác họ còn đó. Chính ông vác họ quăng xuống lúc nãy... Phải rồi, chuyện vừa qua đâu phải là giấc chiêm bao.
6
Cũng không phải là giấc chiêm bao đối với cuộc tình giữa chị với Phú. Lời nói của anh trong lần ân ái cuối cùng vẫn rõ mồn một bên tai và sự lãnh cảm của chị là sự thật. Cũng như những điều chị nghĩ về ông cố trước đây và cả bây giờ nữa đâu phải trong mơ. Nó thật đến buốt lòng.
... Chị trở lại làng quê trong một ngày tang tóc nhất. Bom pháo thiêu rụi hơn nửa số nhà trong làng. Tiếng đạn pháo đã im bặt nhưng lưỡi lửa bén gần tới ngôi từ đường. Lão Mạnh mình trần trùng trục, chỉ mặc độc chiếc quần đùi từ bên đình chạy qua giật phăng mái lá của căn nhà bếp. Ông tốc tất cả vách và những gì dễ bén lửa. Thấy chị bỗng nhiên xuất hiện chính trong lúc này ông cũng không ngạc nhiên. Chỉ khi thấy chị cứ đứng im như kẻ không hồn ông mới quắc mắt lên hét: "Đi gánh nước. Mau lên!". Sực tỉnh, chị chạy vô nhà tìm cặp thùng vòi của ông nội để lại rồi như bay ra ngoài giếng.
Đêm xuống, lưỡi lửa đã hạ chỉ còn lại đây đó những đống than đỏ rực. Chốc chốc nó lòe lên mảng lửa xanh mỏng rồi lụi xuống, những cuộn khói bốc lên che mờ cả ánh trăng mùng mười. Có lẽ đó là của những cây cột to còn cháy ngún.
Con chó nhà ai tránh lửa chạy đến sân nhà chị. Nó ngồi cạnh chiếc bàn đá ong, chống thẳng hai chân trước, ngửa cổ lên trời mà tru thảm thiết. Như đánh động cả bầy đàn còn sống sót, đồng loạt những tiếng tru nổi lên, kéo dài làm chị gai lạnh cả người.
*
* *
Đêm ấy, ngồi trong căn nhà rộng thênh không phên vách ông lão kể cho chị nghe chuyện về ông cố mà từ trước tới nay chị chưa hề biết.
Chuyện rằng:
Ngày xưa nơi đây toàn là rừng, ông bà cố chị là người đặt chân đến khai phá đầu tiên. Ông là người học cao, hiểu rộng, có tài làm thơ phú nhưng lại thích sống ẩn cư nơi thôn dã. Trong lúc vận nước suy vi, triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, thỏa hiệp với giặc nên dù đậu thủ khoa ở khoa thi Hương ông lại từ chối ra làm quan. Đến khi Pháp chiếm Gia Định, không thể sống chung với giặc ông đã về tị địa nơi đây. Để tránh thú dữ ông làm vách nhà bằng những cây chà là dựng đứng như những chấn song to. Một hôm vào lúc chạng vạng tối, ông cố chị nhìn thấy một cái đuôi dài thò vào nhà ngúc ngoắc giữa kẻ hở của hai chấn song vách. Biết cọp đến rình nhà nhử bắt chó ăn thịt, ông liền kề tai bà cố chị bàn kế giết cọp. Ông nói rằng nếu không giết nó thì có ngày chính ông bà sẽ làm mồi cho loài thú dữ kia. Bàn tính xong ông liền chạy tới dùng hai tay nắm đuôi cọp ghị vào, hai đầu gối khuỵu xuống tấn chặt vô những chấn song chà là. Nhờ có võ nên cái thế ấy của ông làm cho cọp khó xoay trở. Bà cố chị vội cầm cây chạy ra ngoài đánh tới tấp vào đầu cọp. Giữa tình thế ấy ai cũng hiểu rằng chỉ sơ suất của người này thì người kia sẽ chết. Nếu ông vuột tay cọp sẽ vồ bà ngay tức khắc, ngược lại nếu bà đánh cọp không chết, sau một lúc vùng vẫy, vách song bị gãy thì nó sẽ dùng chân sau mà móc họng ông. Vì vậy mà ai cũng đem hết sức mình ra đối phó. Nhưng đâu dễ đánh chết loài thú có sức mạnh phi thường kia trong chốc lát. Ông cố chị gần muốn kiệt sức nên dùng răng cắn chặt chót đuôi cọp hỗ trợ thêm cho đôi tay bắt đầu run. Chót đuôi cọp bị nghiến đứt, cũng vừa lúc ấy cọp ngã ra chết. Đó là một con cọp bạch, khá lớn.
Sáng hôm sau vừa mở cửa ông điếng hồn khi thấy cả đàn cọp hơn chục con đứng chật sân nhà. Ông nghĩ chúng đến trả thù cho con cọp bạch. Nhưng vừa thấy ông tất cả vội phủ phục chứ không tỏ vẻ hung hăng. Ông chợt hiểu con cọp bạch bị ông bà giết hồi hôm là con chúa đàn, và lúc ông cắn đứt chót đuôi đúng lúc nó tắt thở thì tướng tinh của nó đã nhập vào ông làm cho cả đàn chịu khuất phục. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn bước ra sân, nói dõng dạc:
- Nếu các thầy có ý phục tôi thì từ nay xin đừng vô các làng phá phách nữa làm dân chúng sợ. Các thầy đói thì về đây vợ chồng tôi sẽ nấu tấm cám cho các thầy ăn, có nước ngọt cho các thầy uống. Hễ bằng lòng thì các thầy trở về rừng, ngày mai tới tôi sẽ khoản đãi.
Cả đàn cọp lần lượt đứng dậy kéo nhau vô rừng. Từ đó xung quanh nhà ông có đặt những cái ảng to đựng sẵn nước ngọt và tấm cám như thức ăn của heo.
Đàn cọp thường đến ăn uống và đối với ông bà cố chị thì chúng tỏ ra ngoan ngoãn, hiền lành như loài vật nuôi trong nhà.
... Ông lão kể say sưa. Trăng đã lặn. Những đống lửa ở xa kia cũng lụi tàn. Đêm ấy, ông lão không cầm đèn đi soi giếng hộc.
Trong cách kể của ông lão, ông cố chị xuất hiện như một vị thánh. Giọng ông đầy vẻ tự hào nhưng không biết sao nó không làm cho chị xúc động. Thật lòng câu chuyện có làm chị thích thú nhưng chị không tin rằng chuyện ấy là của chính ông cố chị. Chị cảm thấy thương ông lão vô cùng. Có lẽ vì quá ngưỡng mộ ông cố mà ông lão hay dân làng đã thêu dệt thêm những huyền thoại. Chị không tin không phải vì chưa hề nghe ông nội lúc còn sống kể, nhưng chị nghĩ rằng một nhà thơ như ông cố không thể có sức khỏe lực bạt, giỏi lao động cơ bắp như một nông dân thực thụ (cho dù ông xuất thân từ nông dân đi nữa). Bởi theo chị hai hình thái lao động này không thể hỗ tương nhau để cùng thành công ở một con người. Dù vậy chị cũng cảm nhận được thần tượng ông cố chị trong lòng ông lão còn thiêng liêng và mạnh mẽ biết bao.
7
Thái đã cưa hai ngôi nhà từ đường. Lần này thì nó không triệu tập cuộc họp gia đình để lấy biểu quyết nữa, vì tấm vách ngăn đã sẵn. Vả lại nếu có thì kết quả cũng không thể khác hơn, vì chị chỉ được một lá phiếu cô độc của chính mình.
Đi dạy về chị thấy thợ đã cưa đứt phăng cây đòn dông và hai dãy đòn tay ở ngay giữa ngôi nhà. Đó là ngôi nhà ba căn được cất từ thời ông cố chị. Qua mấy cuộc chiến tranh ngôi nhà bị tàn phá có lúc hoang sơ nhưng nhờ xây dựng bằng những loại gỗ quí và kỹ thuật điêu luyện, tinh xảo nên nó vẫn còn chắc chắn, vững chải với thời gian. Bây giờ một căn rưỡi phía bên gia đình Thái ở được tháo dỡ, cột kèo chất thành đống ngoài sân. Một căn rưỡi phía bên chị với người anh được nó chống đỡ bằng những cây bạch đàn làm cột, kèo giả để không xiêu vẹo. Đến lúc này chị mới ngớ người ra, những đống gạch đá cao nghệu ngoài kia là Thái chuẩn bị xây nhà chứ không phải là mở rộng, nâng cấp quán bia. Chị hiểu đó là kết quả tất yếu do nguồn lợi của việc kinh doanh mang lại. Thái chọn và thành công trong cách chọn của mình: mua bán thứ đem lại nguồn thu nhiều và nhanh nhất.
Anh Hai chị ngồi trên bộ ván gõ cùng với một người bạn, giữa họ là bàn cờ còn thưa thớt những quân xanh đỏ. Cạnh đó có chai rượu đã vơi bớt một phần ba và dĩa khô mực nướng. Anh không ngước nhìn chị mà mải chăm chú vào ván cờ, tìm nước đi thoát hiểm sau khi người bạn cờ tận dụng được thời cơ dùng con xe chiếu tướng. Thế cờ của anh, tướng sĩ bị khóa chặt trong dinh lũy mà nhất cử nhất động đều không thoát khỏi tầm sát phạt của cặp xe pháo ngoài kia đang tạo thành thế gọng kìm.
Hai bức ảnh trên bàn thờ, của ông cố và ông nội đều bị phủ một lớp bụi dày do mạt cưa rơi xuống. Thật ra ông cố chị không để lại di ảnh. Đó chỉ là bức họa chân dung ông nội chị cộng với nguồn cảm hứng sáng tạo của một họa sĩ đời sau khi đọc thơ ông. Tim chị thắt lại. Chị có cảm nghĩ như ánh mắt các cụ đang nhìn chị, nhìn xuống bàn cờ nơi người anh đang cố gắng tìm một nước đi. Không buồn, không giận, chỉ là ánh mắt của người thấu hiểu.
Lần đầu tiên chị lục tìm bản di chúc, bày ra trước mặt Thái và người anh. Màu giấy ố vàng nhưng chữ còn rõ nét, dấu triện lồ lộ màu son. Anh Hai chị lắc đầu:
- Mày bịnh thần kinh!
Thái cười nhẹ và nói giọng ôn tồn:
- Thôi đi chị Ba. Dù sao thì chuyện cũng đã rồi. Nhưng chị thử nghĩ, nếu căn nhà bị mối mọt đụt ruỗng hay xiêu vẹo chẳng lẽ vì nó là của ông cố nên ta không được quyền cất lại. Thời đại bây giờ là của nhà cao tầng, của xi măng, sắt thép. Sao chị không nghĩ tôi xây nhà lầu trên cái nền của ông cố chính là niềm tự hào, vì con cháu ông bước theo kịp sự phát triển của thời đại.
Những lời ấy không còn làm chị ngạc nhiên nữa. Và chị biết nếu nói thêm lời nào thì Thái cũng thừa lý lẽ để bẻ lại. Những lý lẽ ấy thoạt nghe vô cùng hợp lý, còn thực chất việc nó làm thì ngược lại hoàn toàn. Biết vậy mà không nói được, đó là nỗi đau ngấm ngầm càng lúc càng dày vò tâm hồn chị.
- Có rất nhiều chỗ cần xây nhưng có cái cần giữ lại! - Chị không thể nói khúc chiết được ý nghĩ của mình vì giọng nghẹn lại.
Người anh cuốn tròn tờ di chúc thảy về phía chị:
- Muốn giữ thì mày cứ giữ. Có điều mày cũng nên biết: Đáng lý ngôi nhà phải được chia làm ba, tao cũng có một phần trong đó. Nhưng tao không nhận mà để lại cho hai chị em bây. Mày có cách sống của mày, Thái có cách sống của nó. Nó được toàn quyền trong phạm vi quyền hạn của nó. Mày còn ấm ức nỗi gì?
Anh xé tờ giấy quyến quấn vội điếu thuốc, le lưỡi liếm chỗ mối tháp. Hướng mắt về phía Thái anh nói:
- Còn chú mày nữa, cũng nên bớt cái giọng hằn học, xóc óc ấy đi. Muốn bàn chuyện gì thì hãy lựa lời mềm mỏng một chút vì dù sao nó cũng là chị của mày.
Thái dịu giọng:
- Tôi biết giữa chị với tôi không hợp nhau nên rạch ròi như vầy là rất tiện. Đó là để tránh cho chị khỏi chói tai gai mắt về những việc tôi làm. Và chị cũng đừng nên làm ầm ĩ vì như vậy chẳng khác nào vạch lưng cho người ngoài biết thẹo của mình. Họ sẽ cười vào mũi chúng ta. Chị cứ tự do sống theo ý thích của chị, tôi hứa sẽ không xâm phạm bất kỳ quyền lợi nào của chị cả. Như vậy có hơn không?
8
Cuộc sống phải chăng được hình thành từ những chuỗi nối kết những sự thỏa hiệp? Vì vậy mà xã hội ngày càng tốt hơn hay dần xấu đi chính là do con người thỏa hiệp với điều THIỆN nhiều hơn hay với cái ÁC nhiều hơn. Và sự thỏa hiệp đó có khi được mệnh danh bằng những ngôn từ hoa mỹ, cũng có khi nó được biểu hiện bằng sự im lặng chấp nhận như một qui ước bất thành văn. Nhưng cho dù với hình thức nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của sự thỏa hiệp vẫn là cái quyền lợi do nó mang lại cho cả hai bên. Thái đã ra giá với chị như vậy.
Thái độ im lặng của chị không là sự chấp nhận, bởi điều chị hướng tới không phải ở chủ quyền một phần hay trọn vẹn ngôi từ đường, cùng tất cả những di sản ông cố để lại. Nó nằm ngoài những cái đó. Nó chính là phần tinh túy nhất của ông cố, của ông nội (ngoài tất cả những câu chữ) còn có được trong tâm hồn người anh, đứa em trai, cả bé Trâm nữa. Rồi với sự tiến hóa nó sẽ còn tồn tại mãi.
"Mày bịnh thần kinh!" - Câu nói của người anh khi chị bày bản di chúc của ông nội trước mặt họ làm lòng chị tê dại. Thu mình trong căn buồng nhỏ chị làm bạn với những quyển sách cũ đã nhàu nát, ố vàng..., những di cảo của ông cố chị. Đọc lại những gì ông viết không phải để nghiền ngẫm, thán phục nét tài hoa nghệ thuật hay cúi rạp mình răm rắp nghe theo điều răn dạy của ông từ hơn một thế kỷ trước mà chị đọc để thấu hiểu được tâm hồn ông. Và đôi lúc chị có tâm trạng rạng rỡ, háo hức giống như lão Mạnh trong đêm đón chờ hoa quỳnh bừng nở.
Một đôi lần ý nghĩ buông bỏ chợt đến trong chị. Chị muốn ra đi, phiêu bạt ở góc trời nào đó, bỏ mặc ngôi từ đường cho Thái được trọn quyền nhưng rồi có sức mạnh vô hình nào đã kéo chị lại. Lúc ấy hình ảnh ông nội với những lời trăn trối cuối cùng lại đến. Nó dằn vặt chị bởi chỉ ý nghĩ ấy thôi chị đã là người có lỗi. Chị nhận ra sự dứt bỏ này không đơn giản như sự dứt bỏ tình yêu với Phú trước kia. Để dứt bỏ mối tình sâu đậm ấy chị đã về đây nhưng bây giờ dứt bỏ chốn này chị không còn nơi trú ẩn cho lương tâm bất ổn của chị.
9
Hôm nay là ngày giỗ ông cố chị.
Đã từ lâu ngày sinh của ông cố chị được dân làng tổ chức trọng thể nơi đền thờ. Vài năm trở lại đây ngày đó đã trở thành ngày hội của cả dân làng và những vùng lân cận. Những cuộc lễ tân, những trò vui chơi giải trí được các bậc kỳ lão tổ chức công phu và chu đáo. Chị không biết trong số người viếng đền thờ ngày ấy những ai là thật lòng ngưỡng mộ cụ nhưng nhìn dòng người lũ lượt từ các nơi đổ về chị thấy lòng xúc động và ấm áp. Tuy vậy, khác với Thái, chị luôn từ chối sự trình diện hay phát biểu với tư cách là cháu chắt mang huyết thống của Nhà-thơ-nhân-dân. Chị lẫn trong dòng người như bao thành viên khác, đơn giản chỉ vì chị không muốn mọi người nhìn mình như một phiên bản của ông.
Ngày giỗ được tổ chức tại ngôi từ đường. Đây mới thật sự là ngày kỷ niệm thiêng liêng của gia tộc chị. Nó không hề mang sắc thái của lễ hội mà chỉ đơn thuần là niềm vọng tưởng của con cháu đối với bậc gia tiên.
Mâm cơm cúng được dọn xuống bàn. Một mình chị ngồi nhìn nó như kẻ không hồn. Chị không hề động đũa vì nghe cổ mình nghẹn lại. Phía bên nhà Thái quá đỗi ồn ào. Nó tổ chức lễ cúng linh đình, mời hàng trăm quan khách. Lẫn trong tiếng nhạc, tiếng cụng ly nâng cốc, tiếng cười nói râm ran chị nghe tiếng người nào đó hỏi:
- Ê, Thái, nay giỗ ai vậy mậy?
- Giỗ ông cố tao.
Có vài giọng cười cùng một lúc.
- Trời, xa lắc. Bây giờ ai mà còn giỗ cố! Tới ông nội là đã thấy mệt rồi!
Giọng Thái vả lả:
- Thì coi như lâu lâu mình tổ chức một bữa vui chơi vậy mà!
Im lặng. Có lẽ họ đang nói riêng với nhau điều gì. Chợt có người cất giọng ngạc nhiên:
- Ủa, vậy hả. Đúng là con nhà TÔNG rồi. Thái ơi, vậy chứ mày giống ông cố ở LÔNG hay ở CÁNH?
Không thể tiếp nhận thêm những lời bông đùa kiểu đó chị bước ra sân. Cảm giác trống rỗng úp chụp toàn thân chị.
Hơn nửa đời người chị mới nhận ra rằng càng sống thật với cuộc đời thì mình càng cảm thấy cô đơn. Và đau khổ cũng từ đó mà cắm rễ sâu hơn.
Bất giác chị thấy nhớ lão Mạnh vô cùng. Chị nhận ra tâm trạng trống rỗng của mình lúc này chính là do sự thiếu vắng ông lão. Đây là lần giỗ đầu tiên không có sự hiện diện của ông.
- Cô ơi, cô dẫn con đi chơi đi. Khách đông quá, nhậu nhẹt la lối um sùm làm con sợ!
Bé Trâm từ một góc nhà chạy ra nắm lấy tay chị.
10
Trời đã về chiều nhưng nắng còn rực rỡ. Từ dưới mí giồng nhìn lên chị thấy thấp thoáng chú bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi lảng vảng gần ngôi mộ lão Mạnh. Hình như thấy có người tới nó vội đi xuống mé triền nổng cát khuất tầm mắt của chị.
Ngôi mộ lão Mạnh nằm trên nổng cát phía cuối con giồng. Cỏ đã lên xanh. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát cả ngôi làng của chị. Bé Trâm bỗng dằn khỏi tay chị chạy vượt lên trước:
- Mộ ông Tư nay có hoa đẹp quá cô ơi!
Chị thoáng sững sờ. Dưới chân ngôi mộ ai đó đã trồng một khóm hoa quỳnh. Trên ngấn lá có hai nụ hoa sắp nở. Chợt nhớ đến chú bé thấp thoáng lúc nãy chị đưa mắt về phía triền nổng cát. Chú bé cỡi lưng trâu đã đi xa, theo sau nó là đàn trâu gần chục con. Một chú nghé bị bỏ lại sau, cất tiếng kêu nghé ọ rồi chạy tung về phía trước.
Chị nghe lòng dậy lên niềm cảm xúc mới mẻ: Hiểu lão Mạnh - ông từ ngôi đình dở điên dở tỉnh mà từ lâu chị ngỡ dân làng đã quên - không chỉ có chị. Hai nụ quỳnh màu sẫm căng phồng rung nhẹ trong gió như mỉm cười.
Có lẽ những dòng đầu tiên cho quyển tự truyện đời mình, chị sẽ viết về khóm hoa quỳnh ai đó lặng lẽ trồng và âm thầm chăm sóc dưới chân ngôi mộ ông lão.
2-1997
N.T