Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG
“Tôi không nói với mẹ
mà với cả mọi người
Tôi vấp vào hòn đá
Ngày mai sẽ lành thôi”.
(Êxênhin)
1.
Tách cà phê đã vơi phân nửa, Nghĩa vẫn ngồi im lặng. Tôi chợt nhận ra tóc bạn mình chớm nhiều sợi bạc. Mái trước lẫn những sợi hoe vàng rũ xuống đuôi mắt tạo cho gương mặt hình tam giác có một vẻ trầm buồn, u uất. Linh cảm có chuyện hệ trọng đã đến với Nghĩa, tôi bật ra câu hỏi:
- Trâm ra sao?
Nghĩa ngước đôi mắt sâu sớm hằn những vết nhăn nhìn tôi, giọng trầm xuống và trở nên xa xôi:
Ngỡ mình nghe lầm, và thầm cầu mong như vậy, tôi há hốc nhìn Nghĩa. Nhưng mắt Nghĩa đã xác nhận. Một lằn roi vô hình đã quất thêm vào vết bầm trên da thịt tôi. Đáng lẽ tôi phải hỏi thêm bạn mình một câu gì đó để rõ nguyên nhân nhưng những câu hỏi cứ nghẹn ứ trong cổ. Nghĩa búng tàn thuốc qua khỏi lan can thành một vòng cung để rơi xuống mặt hồ. Nó hỏi tôi:
- Mày về quê?
- Ừ, ngày mai.
- Mày quyết định vậy sao?
Tôi cười:
- Thì cũng như mày vừa quyết định!
Đó là buổi sáng trời quang sau cơn bão dài ngày mà ở cái tỉnh lẻ đồng bằng này chỉ ảnh hưởng từ xa. Chúng tôi ngồi dưới bóng râm một cây cổ thụ của cái quán dã chiến cất leo lên bậc thềm của bờ hồ Chung Thủy. Nước hồ do tù đọng lâu ngày nên có màu xanh của lá. Ở mé hồ phập phều những vỏ bia hộp, thuốc lá, lon sữa, và có lẽ bao nhiêu bã cà phê, trà của quán hàng ngày tuôn xuống nên nước gần giống như màu xương xáo. Cũng chính sự ô nhiễm nghiêm trọng này mà quán đã có lệnh giải tỏa. Sắp tới hồ sẽ được xúc sạch và thay nước mới.
“Anh cô đơn. Anh cô đơn ngàn lần trước biển…”(*). Tiếng hát của ca sĩ Ngọc Tân phát ra từ chiếc loa của quán lúc này như con sóng vồ vập, cuốn xoáy lòng tôi. Ngày mai tôi về quê, về với biển. Tôi sẽ về với mẹ tôi dù đã muộn màng. Ừ, thì tôi có lý do chính đáng nhưng còn Nghĩa? Nghĩa và Trâm đã đến với nhau bằng tình yêu chân thật khi chúng tôi cùng ngồi ở trường đại học. Đó là cuộc hôn nhân tự nguyện chứ hai bên gia đình đâu ai bắt buộc. Vậy mà…
- Tao không hiểu tại sao? – Cuối cùng tôi buột miệng – Có điều tao chắc chắn là Trâm còn yêu mày và nó sẽ đau khổ.
- Mày tưởng tao không khổ sao? Và tao cũng còn yêu Trâm!
- Mày điên?
Không kiềm được tôi gắt lên. Chính tôi cũng ngạc nhiên vì sự quá đáng của mình. Nghĩa nhìn tôi, cười buồn. Nụ cười không gợn chút hờn giận với kẻ vừa xúc phạm mình mà trái lại có phần xoa dịu tôi. Nó ngồi dựa ra thành ghế rít mấy hơi thuốc liền. Ở bàn nước bên trái có hai ông tuổi cũng suýt soát nhau, có lẽ đã ngoài năm mươi. Một ông ốm, mặt xương còn ông kia hơi thấp người, da ngăm đen, mái tóc hoa râm. Tôi đoán họ là đôi bạn thân vì câu chuyện của họ càng lúc càng đi vào nỗi niềm trắc ẩn riêng tư. Tôi không cố ý nghe lỏm nhưng nó cứ tự nhiên dội vào tai trong lúc chúng tôi cùng im lặng. Nghĩa thì sau nụ cười mỉm vừa rồi đã lơ đãng nhìn ra phía hồ, nơi có những con thiên nga bằng sắt đủ màu đang bơi lội. Còn tôi, tôi đang cố kiềm nén cơn bốc đồng với bạn lúc nãy. Ông già ốm, mặt xương than với bạn rằng càng về già vợ chồng ông càng cảm thấy cô đơn. Hàng ngày ông đến cơ quan làm việc, giao tiếp, cười nói nhưng đêm về tiếng học bài ê a hay tiếng khóc bất chợt của đứa trẻ con nhà bên cạnh cũng làm ông rơi nước mắt. Nỗi khao khát có một đứa con về già càng mãnh liệt. Có nhiều lúc ông nghĩ rằng mình sẵn sàng đánh đổi tất cả để có một đứa con, vì nó bây giờ là nguồn hạnh phúc của cuộc đời ông. Nhưng đó chỉ là nỗi khát khao tuyệt vọng. Năm hai mươi bốn tuổi ông cưới vợ. Mười ngày sau ngày cưới ông bị giặc bắt vì một tên chỉ điểm. Mười ngày của cuộc sống vợ chồng trong hoàn cảnh chiến tranh, giặc truy lùng ráo riết không đủ để vợ chồng ông kết một bào thai. Và có ai ngờ chính những ngày sau đó, khi trải qua nỗi nhục hình thì sự tuyệt vọng đã đeo đẳng ông suốt đời. Ở phòng cảnh sát khi tra tấn để khai thác chúng đã bắt ông nằm ngửa, dùng sợi dây mảnh cột vào dương vật mà treo cả người ông lên. Dưới sức nặng của cả thân hình, ông không hiểu sao nó đã không đứt ra. Và ông cũng không rõ nó nhấc bổng người ông khỏi mặt đất bao lâu, chỉ nhớ trong cơn đau điếng hồn ông chỉ nghe (thật ra chỉ là trong cảm giác) “bựt… bựt…” mấy tiếng rồi ngất liệm.
- Vậy là từ đó cuộc sống vợ chồng anh không còn bình thường nữa? – Người bạn hỏi.
- Về một mặt nào đó thì bình thường. Tôi vẫn là người chồng với đầy đủ chức năng. Chỉ có điều bác sĩ đã khẳng định tôi không thể có con. Đó chính là điều không bình thường trong cuộc sống bình thường. Ước muốn dù có cao cả đến đâu nhưng không phải lúc nào mình cũng đạt được.
Họ lại rơi vào im lặng. Nghĩa lại đốt một điếu thuốc. Tôi muốn hỏi nó có nghe câu chuyện của hai ông già bàn bên cạnh không nhưng thấy nó vẫn mải mê ngắm nhìn cặp tình nhân trên một con thiên nga sắt đang lượn lờ ở giữa hồ, nên thôi.
- Mày nói đi, điều gì có thể nói được.
- Để rồi mày cho là tao điên? - Nghĩa cười - Nhưng thôi, cứ cho là vậy đi vì mỗi người đều có quyền nhận định theo cách của mình. Tao và Trâm đồng ý chia tay vì đứa nào cũng muốn bảo vệ cá tính của mình. Vợ chồng muốn hòa hợp, hạnh phúc thì một trong hai người phải tự triệt tiêu đi cá tính của mình. Mày thấy không, có biết bao bà vợ là bản sao tính cách của ông chồng, hoặc ngược lại. Tao và Trâm nếu kéo dài thêm ngày nào chỉ là để hành hạ nhau. Và biết đâu, một ngày nào đó…
2.
Vô tình câu chuyện ở quán cà phê sắp giải tỏa ấy đã chất đầy thêm mớ hành trang vốn đã trĩu nặng của lòng tôi. Tôi cứ bị dằn vặt mãi bởi thái độ quá dửng dưng đến chai sạn của mình khi ngồi đực ra mà nghe Nghĩa nói. Biết đâu đó chỉ là những câu triết lý cuội của một anh chàng sống theo lý tưởng giáo khoa thư, tưởng chính chắn nhưng quá nhiều nông nổi. Phải chi tôi khuyên Nghĩa như chính thật lòng mình đã nghĩ, thậm chí nổi cáu lên mà chửi nó một câu như trước đó thì giờ đây lòng tôi vơi bớt phần nào. Có thể lúc ấy Nghĩa giận tôi nhưng rồi nó sẽ nghĩ lại. Nhưng nếu tôi sai như biết bao lần tôi đã sai lầm. Trời ơi, tôi cầu mong không phải như vậy.
Chiếc xe bò lọc cà lọc cọc mãi rồi cũng ra khỏi mí giồng. Cánh đồng muối mênh mông hiện ra, những bờ đất phân khuôn ngang dọc, thẳng tắp ở hai bên con lộ giống như một bàn cờ thiên nhiên vĩ đại. Lác đác đây đó nhô lên một vài căn chòi muối, chính là những quân cờ. Khung cảnh làng quê, cái không gian thoáng đãng đã làm lòng tôi dịu lại. Tôi đã bắt gặp con đường của tuổi thơ tôi. Ngày xưa, lúc sáu bảy tuổi, hàng ngày tôi đã đi trên con đường này đến trường để học chữ a, b đầu tiên. Lúc ấy hai bên lộ là láng xăm xắp nước, xa vô trong là cụm rừng thưa với các loại cây dà, mắm, đước hoặc chà là gai. Hai bên mé lộ, chỗ xăm xắp nước này cá kèo nổi đầu đen đặc như được rọng trong bơ của mấy bà bạn hàng ở chợ. Nó mê hoặc tôi, một thằng nhóc mê chĩa cá hơn là mê học. Nói chĩa cho oai chứ cả đời tôi có chĩa được con cá nào. Tôi chỉ tò tò theo ông anh con dì tôi, tay chĩa cá cừ khôi trong bọn nhóc làng tôi hồi đó. Có khi chỉ một cái đẩy tay nhẹ nhàng, cây trúc dài thẳng băng, đầu có gắn mũi chĩa bằng chiếc kèo dù mài nhọn hoắt lướt nhanh trên mặt nước êm ru và xuyên qua đầu hai, ba con cá kèo to bằng ngón tay. Lúc ấy tôi đến gỡ cá và xỏ cọng lá dừa nước từ mang lên miệng cá. Anh chĩa một lát thôi thì tôi xỏ được mấy xâu cá liền. Vậy mà tôi lấy làm hãnh diện và mê lắm. Nhưng cái chính là tôi sợ cây roi mây của ông thầy, nên khi học đến “vần ngược” thì tôi “cương quyết” nghỉ để đi theo ông anh. Thế nào rồi má cũng hay và bắt tôi đi học lại sau một trận no đòn. Thôi, thà chịu một trận đòn sanh tử nhưng rồi thì… Tôi nghĩ ra một cách. Thừa lúc cả nhà đi vắng tôi bèn gom tất cả sách vở ra sau hè đốt hết. Chỉ loáng sau thì chữ nghĩa, giấy mực đều thành một nhúm tro đen xốp. Gió đã mang đi số tàn tro vỡ vụn, mớ còn lại tôi lấy dao đào lỗ rồi đùa hết xuống, lấp đất lại để không còn dấu vết…
- Cậu Hai. Cậu Hai mới về. Má ơi, cậu Hai về!
Thằng bé trạc tám, chín tuổi, đen thui như cục than đước, cởi trần trùng trục đang bắn cu li, thấy tôi vội la toáng lên mừng rỡ. Liên hiện ra vui mừng nhưng trong đáy mắt không giấu được thoáng thẹn thùng.
3.
Bữa cơm chiều diễn ra thật ấm cúng, có lẽ gian nhà từ lâu vắng hơi hướm đàn ông, hôm nay lại có tôi. Thằng bé vui ra mặt. Nó đã nhường phần ngon nhất trong bữa ăn cho tôi: một con cua gạch điều Liên vừa câu được ở ao nuôi. Nó nói:
- Cậu Hai ăn đi, ở đây con ăn hoài.
Nó nói vậy chứ tôi biết mấy năm nay, từ khi cua gạch là nguồn xuất khẩu thuộc loại cao cấp trên thương trường thì người dân quê, dù ở biển cũng ít khi dám ăn. Liên nhìn cậu cháu tôi đùn đẩy nhường phần nhau mà cười hoài. Thấy Liên vui tôi cũng muốn pha trò, nên nói:
- Bây giờ ta làm một trò đùa của đạo đức: con cua này con nhường cho cậu, cậu nhường lại cho mẹ con, mẹ con lại nhường cho cậu, cậu nhường cho con… Cứ như vậy thì con cua sẽ còn nguyên con cua. Thôi, ăn đồng chia đủ, chia ba!
Vừa dứt lời tôi đã kịp nhận ra câu pha trò của mình quá đỗi vô duyên. Thằng bé đang vui vẻ lại tỏ ra vui gượng. Nó cười mà như mếu, lí nhí:
- Con mời cậu thiệt chứ đâu có đùa!
… Có lẽ cần nói một chút về mẹ con cậu bé này và mối liên hệ với gia đình tôi. Má tôi kể lại rằng năm Liên ba tuổi, ba má Liên ra biển bắt nghêu lúc về bị “bù nốc” bắn chết. Liên được bà dì ruột đem về nuôi. Từ nhỏ chúng tôi đã chơi thân nhau. Hơn mười năm về trước má tôi có ý định hỏi cưới Liên cho tôi vì thấy hai đứa khắng khít nhau và tánh tình Liên hiền hậu, nết na. Thật lòng tôi cũng mến Liên và có thể đi đến hôn nhân nếu như tôi không vào đại học và có chút tiếng tăm trong làng báo chí. Lúc ấy tôi sống trong mộng tưởng là con đường sự nghiệp của mình đã trải rộng thênh thang, đầy hoa thơm, mật ngọt. Tôi tin ở tài năng mình và say sưa trong ý tưởng đem lại hạnh phúc cho nhiều người hơn là tự trói buộc trong hạnh phúc cá nhân mình. (Tôi thề trước vong linh má tôi là lúc ấy tôi nghĩ vậy, bằng chứng là đến bây giờ tôi vẫn cô đơn). Hai năm sau, khi không còn hy vọng nơi tôi nữa, Liên lấy chồng, con trai trưởng một ông chủ ghe cào năm chiếc. Thằng bé ra đời tám tháng thì cha nó đã vượt biển cùng với một người đàn bà khác. Mẹ con Liên trở lại sống với bà dì ruột. Lúc má tôi ngã bịnh một tay Liên qua lại chăm sóc và sau này vì không nỡ để căn nhà hoang phế mẹ con Liên sang ở để nhang khói cho ba má tôi.
Thấy tôi lúng túng vì không khí có vẻ nặng nề, Liên nhìn con âu yếm:
- Cậu Hai nói chơi, thôi con ăn đi.
Liên quay sang tôi:
- Nó biết anh thích ăn cua vì thường nghe bác Tư hay kể tính nết anh hồi nhỏ ra sao, thích ăn món gì. Bác nói là anh thích nhất món cua luộc và tánh hay hờn mát.
Tôi nghe nhói ở tim mình như vừa có ai bóp lại. Từ ngày má tôi chết và bị liên tục những va vấp trong đời tôi mới nhận ra rằng trên thế gian này chỉ có má là người hiểu và thương yêu tôi nhất. Lúc nào bà cũng xem tôi là trẻ con, cần được bà chở che, chăm chút cả khi tôi đã là chàng trai vạm vỡ thích sống tự lập, muốn khẳng định rằng mình đã trưởng thành đủ sức hòa nhập và đứng vững trong cuộc đời. Tôi không thể nào chịu nổi khi đã tồng ngồng hai mươi tuổi trên đầu mà cứ mỗi bữa cơm bà cứ ngồi kề bên rỉa từng miếng cá, bóc vỏ từng con cua vì sợ tôi mắc xương. Đi đâu về trễ một chút là y như bà ngồi trên đống lửa, cứ nhấp nha, nhấp nhỏm lo lắng, than thở với người này, người khác. Khi đã tìm được công việc phù hợp với sở thích và năng khiếu của mình tôi như chú gà con bứt khỏi đôi cánh mẹ. Thật lòng nhiều lúc tôi nhớ má tôi lắm nhưng cái say mê của tuổi trẻ thực hiện hoài bão đã lấn át. Dù hàng tháng tôi có về thăm má nhưng hầu như chưa thỏa được lòng bà là tôi lại ra đi. Có lẽ trong lòng má thấy tôi phần nào thừa hưởng tính khí của ba tôi nên bà càng không yên tâm, sợ rằng tôi sẽ dẫm lại con đường xưa ông đã đi qua. Tôi nhớ có lần bà kể lúc mang thai tôi được hai tháng, một hôm có vị đạo sĩ ghé nhà tìm gặp ba tôi. Không biết ông nói với ba tôi những gì mà hôm sau ba tôi thu xếp hành lý đi cùng vị đạo sĩ ấy lên núi. Ông nói với má tôi rằng vị đạo sĩ đã đoán định được quá khứ vị lai của cuộc đời ông một cách tường tận. Ông có bàn tay phục dược nhưng cần phải lên núi tu luyện ba năm rồi trở về “cứu nhân độ thế”. Những chuỗi ngày sau đó đầy cô đơn và cực khổ đối với má tôi. Sinh tôi còn trong tháng bà đã té từ cây thang bắc để chèn lại mái nhà dột xuống đất chết giấc. Ba năm sau ba tôi trở về như lời hứa nhưng đã trở thành một con người khác, đầy chất phiêu lưu. Ông mải mê đi truyền giảng thu phục tín đồ nay ở làng này, mai làng khác, không ngó ngàng gì đến má con tôi. Phải thừa nhận ba tôi đã nổi tiếng. Nhiều người đã ca ngợi đạo cao đức trọng của ông, nhưng cũng từ đó hạnh phúc gia đình đã vuột khỏi tầm tay má con tôi. Những trận cãi vã giữa ba má tôi, cái không khí căng thẳng bức bối bị dồn nén thành một khối im lặng nặng nề để che đậy, chịu đựng đã trở thành ấn tượng luôn ám ảnh suốt quãng đời thơ ấu của tôi đến tận bây giờ.
4.
- Cậu Hai nè, con đố cậu dụ được con ốc len này bò ra hết ruột luôn.
Thằng bé đứng ở sàn nước sát mé rạch chìa con ốc len trên tay ra trước mặt tôi. Tôi đáp giả vờ:
- Cậu chịu thua.
- Cậu coi nè – Tức thì thằng bé cầm con ốc bằng hai ngón cái và trỏ của bàn tay trái, còn ngón trỏ của bàn tay mặt ngoắc ngoắc trước vòm miệng con ốc rồi đọc đi đọc lại mấy lần:
Ốc quắn ốc quíu
Mày mở miệng ra
Tao cho ăn trầu
Ăn cau, ăn vôi đỏ miệng
…
Không biết con ốc có khả năng nghe được những câu ngô nghê đến mức vô nghĩa đó không mà chiếc mài từ từ nhích dần ra kéo theo cái miệng đỏ choét và cả đoạn ruột xanh đen. Bất ngờ thằng bé dùng hai ngón tay nắm chặt đầu con ốc rồi cười ngặt nghẽo. Nụ cười hồn nhiên của nó không hề gợn nỗi lo lắng băn khoăn của tối hôm qua. Đêm qua tôi và Liên nói chuyện rất khuya. Thằng bé ban đầu còn tham gia hỏi han trò chuyện nhưng rồi nó cũng mòn mỏi, buồn ngủ. Liên giăng mùng bảo con ngủ trước nhưng thằng bé cương quyết không đi. Nó tỏ ra bướng bỉnh nhưng không hề quậy phá mà ngã vào lòng Liên ngủ thiếp. Thái độ của nó làm tôi buồn cười. Có lẽ nó không yên tâm khi để mẹ nó trò chuyện trong đêm cùng một người đàn ông nó rất mến nhưng không phải là cha nó. Và vì không chống chọi được với cơn buồn ngủ nên ngã vào lòng mẹ là yên tâm nhất, là rào chắn an toàn. Nhớ đến đó tôi bật cười.
Thấy thằng bé có vẻ chán dụ con ốc và tôi cũng muốn bứt khỏi trò đùa mà một thời tôi đã say mê nhưng bây giờ không còn thú vị nữa, tôi rủ nó:
- Cậu cháu mình ra biển chơi đi, giờ này ghe cào về nhiều rồi đó!
- Cháu không thích ra chỗ đó.
- Sao vậy?
Thằng bé quăng con ốc xuống bãi bùn:
- Ở đó ba cháu đã ra đi với một bà khác, bỏ mẹ con cháu. Ra đó buồn lắm.
Tôi nắm tay thằng bé nhưng để mặc nó dẫn đi lang thang trên những khung ruộng muối. Những chú cò trắng muốt đang đi lọm khọm bỗng giật mình bay vút.
- Cậu Hai nè, cháu mất ba rồi, có tìm ba lại được không hả cậu?
Tôi trả lời nhanh:
- Được chứ. Nếu mẹ và cháu chịu thì cháu sẽ có ba khác.
- Không phải ba khác mà ba thiệt của cháu kìa!
- Có chứ.
Thằng bé dừng lại, tròn mắt nhìn tôi:
- Mẹ nói cháu không bao giờ tìm lại được ba nữa.
- Biết đâu ba cháu trở về hoặc rước mẹ con cháu qua bên ấy.
- Mẹ nói dù như vậy ba cũng không còn là ba nữa.
- Cháu tin không?
- Cháu không hiểu. Hỏi mẹ, mẹ cũng không nói thêm, chỉ bảo là lớn lên tự cháu sẽ hiểu.
Lại những ngày nặng nề nữa đối với tôi vì những khơi gợi của thằng bé. Liên đã nói với con như vậy sao? Bây giờ, tôi và Liên giống như người đã rời xa bến, muốn quay lại cũng muộn màng mà bờ bên kia thì còn xa quá. Cái điều chúng ta vươn tới sẽ không bao giờ đến được nhưng khi ta bỏ mất cái mình đang có thì cũng không bao giờ tìm lại được nữa. Phải chăng Liên đã nói với thằng con chín tuổi của em như vậy không?
5.
Tôi trở lại thị xã với tâm hồn bình ổn đến lạ lùng. Sau những đêm thức trắng nằm nghe tiếng gió hú hòa cùng tiếng lóc cóc của xa quạt nước ngoài ruộng muối tôi nhận ra lại một lần nữa mình đã sai lầm. Tôi muốn trốn chạy khỏi nỗi dằn vặt này nhưng lại rơi vào nỗi ray rứt khác. Cuối cùng tôi đã quyết định tìm lấy sự bình ổn trong sự náo động vốn có của chính môi trường mình đang sống. Người đầu tiên tôi có thể nói được những suy nghĩ này là Nghĩa. Tôi muốn giãi bày tất cả và muốn biết rõ tình cảnh vợ chồng nó. Không biết nó có thực hiện cái điều mà tôi cho là nông nổi hôm trước không?
Tôi đạp xe vòng qua góc bờ hồ nơi tôi và Nghĩa ngồi uống cà phê trước hôm chia tay. Quán đã giải tỏa. Nước dưới hồ vẫn xanh màu xanh của lá, và phía gần bờ vẫn đen màu xương xáo. Ừ, sắp tới hồ sẽ được xúc sạch và thay nước mới. Ở những thân cây cổ thụ hôm nay có dán những tấm tranh cổ động: Phòng chống sốt bại liệt và ô nhiễm môi trường với màu sắc sặc sỡ dễ đập vào mắt người đi đường. Tôi vượt qua nhanh…
(*): Lời bài hát Biển đêm