Truyện ngắn của NGUYÊN TÙNG
Ông đứng dậy, lê những bước chân chậm chạp ra hiên khi chợt nhận ra bóng tối đã tràn ngập căn phòng. Xấp giấy trên bàn dày đặc chữ như đàn kiến đang động ổ. Ông không muốn bật đèn vì ánh sáng lúc này không thể xua tan được khoảng mù tối của tâm hồn ông đang chìm ngập.
Nàng đến. Đến trong lúc ông không còn chút hy vọng. Hơn bốn mươi năm rồi còn gì. Ngần ấy thời gian ông luôn ước mong nàng, dù chỉ là thoáng chốc khi ông say sưa trên những dòng bản thảo. Cũng ngần ấy năm tên tuổi ông đã được khẳng định trên văn đàn, và như trận bão nổi làm xô dạt cả giới sân khấu. Báo chí không tiếc lời xưng tụng ông. Nhưng trong sâu kín của tâm hồn ông chỉ mong chờ nàng, dù chỉ là ánh mắt hiện ra trong một thoáng mơ hồ. Vậy mà nàng vẫn tuyệt tích. Hôm nay trên những trang bản thảo cuối cùng – Phải, cái kịch bản cuối đời như ông thầm khẳng định, nàng trở lại. Vẫn hình ảnh cô thiếu nữ ngày xưa với mái tóc dài óng mượt. Thật gần mà cũng thật xa. Gần vì nàng đang trước mặt ông. Ông nhận rõ những điều nàng muốn nói trong đôi mắt, trên làn môi nhưng thật xa vì ông biết rõ mình không thể nào với tới. Nàng vẫn trẻ trung, sắc đẹp càng ma quái. Duy ánh mắt không hồn nhiên như những lần đầu ông bắt gặp. Nó lạnh lùng, nghiêm khắc và ông cảm nhận được trong đó chứa đựng sự nghiệt ngã. Nét lạnh băng của cái nhìn làm ông run rẩy.
Không khí mát dịu thoảng quyện mùi hoa dạ lý trước thềm làm cho ông thư thái đôi chút. Ông nhận ra mình đã ngồi lặng đi lâu lắm. Những ngày gần đây ông thường ngồi lặng như thế khi đang viết giữa chừng cái kịch bản tâm huyết nhất đời ông. Thời gian gấp rút, ít ỏi quá. Ông mong cho dòng cuối của kịch bản đến sớm nhưng không hề hối tiếc những khoảng thời gian ngồi lặng yên như pho tượng trước những dòng bản thảo dở dang. Ôi, ánh mắt quan tòa của nàng vừa rồi càng thúc đẩy ông tiến tới cái ý định của mình thật sớm.
Ngoài hiên, bóng tối như dày hơn khi ông đứng dưới tán lá và rễ của một loài cổ thụ: lá thì giống lá bồ đề nơi của Phật nhưng thân nó mọc tua tủa những sợi rễ lòng thòng như cây si trong khoảng sân trường. Ông mỉm cười vu vơ khi nghĩ đến sự nửa thanh thoát, nửa trần tục của loài cây này. Như một lực hấp dẫn ông cứ dán mắt vào chiếc vòng bằng sợi dây thừng trên một nhánh sà ngang to khỏe mà ông dùng để ngáng một đầu võng, còn đầu kia thì cột vào những song sắt của cửa sổ. Và như sự đánh đố, ông càng chú tâm vào chiếc vòng thì càng bị hình ảnh nàng ám ảnh.
Ký ức ông bỗng quay về quãng đời học sinh cách nay hơn bốn mươi năm. Ngày ấy ông trọ ở một căn nhà nhỏ trong dãy phố sau gác chuông nhà thờ. Không biết từ lúc nào người chủ đã trồng trước nhà một cây si bóng rợp cả khoảng sân. Những chùm rễ màu vàng sậm buông tua tủa từ cành cao khỏi đầu xuống gần chấm đất. Đò là niềm hứng khởi, là đề tài mộng mơ của chàng thanh niên mê văn chương mới tập tễnh làm thơ. Thích nhất là những buổi chiều mặt trời vừa khuất dưới nóc nhà thờ, còn vương lại những giọt nắng cuối cùng trên những lá si non. Cũng chính lúc ấy, chuông nhà thờ đổ dồn, âm vang. Chàng đứng trước hiên nhà nhìn tán si, nhìn dòng người đi lễ.
Cho đến một ngày chàng phát hiện ra nàng – cô gái đánh phong cầm trong những cuộc thánh lễ. Nàng nhỏ nhắn trong tà áo dài trắng – vẫn luôn màu trắng, mái tóc dài óng mượt xõa ngang lưng, và bước chân uyển chuyển. Nàng đi giữa dòng người nhưng không hề lẫn giữa dòng người. Hình ảnh bất chợt ấy đã làm tâm hồn chàng thanh niên luôn xao động. Chàng trở thành con chiên ngoan đạo nhất tuy không một lần bước chân vào giáo đường. Chàng đã đứng dưới tán si mỗi chiều, mỗi sáng để nhìn theo từ lúc nàng đi đến lúc nàng về. Những bài thơ đã hình thành từ hình ảnh ấy. Có không biết bao lần dù không chủ tâm nhưng như có một ma lực nào đó đã kéo bước chân chàng theo nàng. Chàng đi, đi với tâm hồn của kẻ mộng du, không hề gợn chút dục vọng. Để rồi đêm về trước trang giấy trắng nàng luôn đến với chàng trong những tứ thơ…
Nàng đến cả trong những kịch bản đầu tiên làm dấu ấn cho cả cuộc đời nghệ thuật của ông.
- Em đang chờ.
- Ừ, chờ.
- Ai?
- Anh. Đi không?
- Đi!
Tiếng của đôi nam nữ ở gốc cây dầu trước cổng bỗng nhỏ hơn và dùng nhiều từ lóng của giới ăn sương nhưng ông cũng hiểu họ đang ngã giá. Cuộc mặc cả thể xác diễn ra chóng vánh và họ dẫn nhau đi vào con hẻm tối om ở chếch lối vào nhà ông. Đã hàng trăm lần ông chứng kiến cảnh mặc cả đó. Nó trở nên quen thuộc với ông như người ta đang ngã giá một mớ rau, con cá. Vậy mà cái giọng nhừa nhựa vì men rượu của gã thanh niên với giọng nửa khô khốc, nửa đon đả của cô gái hôm nay đã làm tim ông đau nhói. Nó đánh thức trong ông sự mặc cả của cuộc đời. Có thể, biết đâu được, do sự bức thiết của cuộc sống cô gái sẵn sàng buôn bán xác thân chứ tâm hồn thì không ai mua được. Còn ông, cũng một lần ngã giá mà ông đã bán luôn cả tâm hồn. Giá như đừng có anh ta! Ông mỉm cười tự chế giễu cái ý nghĩ thơ ngây bất chợt ấy. Nếu như vậy khác nào giá như Nguyễn Du đừng tạo ra Hồ Tôn Hiến thì Từ Hải đâu phải chết đứng và nàng Kiều đâu phải trải thêm những nỗi truân chuyên. Anh xuất hiện khi tiếng tăm ông vang dội trong giới sân khấu. Tuồng tích của ông có mặt rất nhiều trong những đoàn hát lớn. Anh, một tác giả trẻ đồng thời là lãnh đạo ở một tỉnh rất ưu ái ông. Qua những lần tiếp xúc ông nhận thấy đó là người đẹp trai, lịch thiệp và rất tâm huyết. Anh tỏ ra rất quan tâm đến sự phát triển ngành sân khấu tỉnh nhà. Đã nhiều lần đích thân anh lên Sài Gòn rước ông về nói chuyện, phụ đạo cho những trại sáng tác. Anh tiếp đãi ông hết sức nồng hậu và kính trọng ông như một người thầy. Có đêm anh ngồi tâm sự với ông về những nỗi ưu tư và ý định phát triển ngành sân khấu của tỉnh. Sau đó anh ngỏ lời ân cần mời ông về lãnh đạo hẳn một đoàn. Đó là đoàn khá nhất trong bốn đoàn hát của tỉnh có lực lượng diễn viên trẻ, đồng đều, đặc biệt có hai cặp diễn viên ca hay, diễn giỏi đang có nhiều cảm tình của khán giả. Ý anh muốn củng cố, nâng cao chất lượng của đoàn lên ngang tầm với những đoàn hát lớn ở thành phố Hồ Chí Minh hay ít ra cũng là đoàn trội nhất trong khu vực đồng bằng. Muốn vậy anh rất cần có ông, một kịch tác gia kiêm đạo diễn. Anh sẽ hỗ trợ hết sức trong phạm vi tài năng, trí tuệ và cương vị của mình. Lời yêu cầu ấy được lặp lại rất nhiều lần trong những dịp gặp gỡ về sau đã gây cho ông nhiều suy nghĩ. Tự trong đáy lòng ông nhen lên ý nghĩ có lẽ đã đến lúc nên dừng lại khi cánh chim đã mỏi. Và chim đã thấy được đất lành.
Ngôi biệt thự một tầng xinh xắn nằm lưng lửng giữa nội và ngoại ô – thành quả cụ thể nhất của ba kịch bản ông viết chung với tác giả trẻ ấy. Gọi là đồng tác giả nhưng thật ra anh không hề đặt bút viết một chữ. Cũng chẳng sao, vì tuổi anh còn quá trẻ. Ông rất thích ngôi nhà. Ở đây ông nghe được tiếng ô tô, tiếng rú ga của xe máy và cả tiếng vó lộc cộc của chiếc xe ngựa ông Tư Báo. Đứng trên sân thượng ông có thể thấy được quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp của lòng thị xã, đồng thời cảm nhận được vẻ tĩnh lặng của vườn cây, đồng ruộng. Điều quan trọng hơn là ở đây có một khoảng yên tĩnh cần thiết cho người sáng tác. Ông hứng thú về sự ngẫu nhiên đã đến với mình mà trong đời hiếm ai có được. Đó là cây cổ thụ rễ buông tua tủa từ cành xuống ở trước cửa nhà gợi lại hình ảnh cây si nơi ông trọ học ngày xưa, tiếng chuông nhà thờ và bóng dáng người thiếu nữ.
*
* *
Đêm cuối tháng mười trời se lạnh, không chút gió, chợt có một cơn mưa. Cơn mưa cuối mùa sót lại chỉ nghe lộp bộp trên lá cây khẽ khàng trong chốc lát giống như cái ngoái nhìn của kẻ sắp ra đi. Trong ngôi nhà rộng thênh im ắng chỉ còn ánh đèn nhỏ gom tụ ở một góc phòng. Chốc chốc có tiếng sột soạt của những tờ giấy. Những sợi khói màu vàng sậm đang kéo nốt mẩu thuốc cuối cùng rồi tan biến, để lại khoảng tro màu trắng nằm dài trong khe chiếc gạt tàn. Trên mảng tường trắng chiếc bóng đen thỉnh thoảng lay động, run rẩy.
Phá tan sự yên lặng của đêm là tiếng đổ bể ly chén ở ngôi nhà lá nhỏ bên kia đường. Tiếng con nít khóc ré xen lẫn trong tiếng tru tréo của đàn bà:
- Lo cho mày ăn nhậu đã rồi đập phá nữa hả. Muốn gì nữa?
- Tao muốn mày làm vợ. Làm vợ, nghe chưa.
- Từ tối tới giờ mấy lượt khách, mệt mỏi lắm rồi. Mày còn muốn hành tao nữa hả?
- Với họ sao mày không than, còn tao là chồng thì mày tránh. Tại sao?
- Mày hỏi mày chứ còn hỏi ai. Tại vì chén cơm mày ăn, chai rượu mày uống đó.
- Tao không cần những đồng tiền nhơ nhớp đó.
- Mày nói không cần, mày biết nhơ nhớp sao mày vẫn ngốn hết vô miệng. Tao chịu nhục vì mày. Đáng lẽ mày làm chồng mày phải biết nhục hơn tao nữa kìa!
- Trời ơi, tao đập phá hết. Tao giết mày rồi tao giết luôn tao!
Đến lúc đó thì mới nghe tiếng chân người thậm thịch rồi tiếng xì xào can gián của hàng xóm. Bởi chuyện cãi vã của đôi vợ chồng này xảy ra như cơm bữa, và họ tuyệt nhiên không có sự ẩu đả nên chẳng vội vàng gì. Có lẽ ai đó đã kéo anh chồng đi vì tiếng càu nhàu của anh ta nghe xa dần. Giờ thì người đàn bà mới bật khóc, tiếng khóc tấm tức, uất nghẹn.
Ông buông bút, thở dài. Lúc nãy ông muốn bước qua để góp cùng bà con vài lời can gián, khuyên nhủ đôi vợ chồng ấy nhưng biết nói với họ những gì. Lời tru tréo của người đàn bà cứ nghiến vào trái tim ông đến nghẹt thở. Phải, người đàn bà đã nói như nói với chính ông. Giống như người chồng, ông biết nhục nhưng phải đành câm lặng. Biết đồng tiền ấy nhơ nhớp nhưng vẫn phải ngửa tay đón nhận. Nước mắt ông lặng lẽ lăn xuống đôi gò má già nua, hốc hác khi nhìn chăm chăm vào tấn ảnh đứa con gái. Nó đang cười với ông. Nụ cười hồn nhiên, trong trắng của cô con gái năm nó mười tám tuổi giờ làm sao tìm lại được. Nó ra đi chỉ để lại cho ông một bức thư không hề có giọt nước mắt. Nó nói rằng nó đã lớn cần phải tự lập, và một vài năm sau nó sẽ về phụng dưỡng ông. Nó đã giấu ông sự thật vì sợ ông buồn khổ. Nó không muốn ông mất đi niềm tin khi biết được mình đã bị lợi dụng và lừa dối. Nhưng tội nghiệp, nó đã sai lầm vì ông hiểu tất cả.
Một dịp tình cờ ông đã nghe được những lời nói của anh ấy và con gái ông:
- Em nên đi một mình. Anh đã điện cho bà chị là bác sĩ sản khoa ở Sài Gòn. Em sẽ ở tại nhà chị, bả sẽ lo cho em chu đáo.
- Ba tôi…
- Rồi ba cũng phải chịu thôi. Chứ làm lớn chuyện lúc này cũng khó. Mà ai tin…
- Nhưng ba tôi sẽ tin.
- Anh thu xếp ổn hết. Em coi, để có được ngôi nhà này với cuộc sống như hôm nay là do anh linh động đó chứ. Hàng tháng ba nhận số tiền gọi là phần trăm nhuận bút kịch bản, thật ra đó chỉ là cách nói. Mấy tuồng ăn khách hồi trước thì cũng nhàm rồi, còn sau này ba viết theo yêu cầu chỉ diễn một hai lần là người ta chán, ai chịu coi. Vì thương quý ba, vì yêu em, anh…
- Thôi, anh đừng nói nữa.
- Anh…
- Về ngay đi, ba tôi sẽ về đó.
…Ông đã kịp hoàn hồn, vội lao biến ra cổng để không ai thấy mặt. Ông chạy trốn anh ta và chạy trốn cả con gái ông. Điều đó ông cảm nhận được từ lâu nhưng khi nghe những lời ấy thì cả người ông như tê dại.
*
* *
Ông lại lê những bước chân chậm chạp ra hiên khi nghe tiếng vó ngựa. Ông muốn vẫy tay chào ông bạn già Tư Báo, nhưng bóng tối vẫn còn bao phủ. Mới hơn ba giờ sáng. Từ xa chiếc đèn trứng vịt được để trong lồng kính treo trên thành mui xe hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt, yếu ớt. Tuy vậy ông vẫn thấy mờ mờ bóng một ông già gầy gò, gương mặt dài xương xương với chòm râu bạc. Bỗng có tiếng người đàn bà từ trong mui xe hỏi:
- Bây giờ nước đang lớn hay ròng vậy anh Tư?
Tiếng ông Tư Báo giãy nãy:
- Ối, mấy bà có đi đò đi ghe gì mà hỏi.
Từ trong xe rộ lên tiếng cười của mấy bà bạn hàng.
Không nhịn được ông cũng bật cười, bởi ông biết rõ căn nguyên của câu hỏi ấy. Người ta đồn rằng (cũng qua miệng mấy bà bạn hàng hay đi xe ngựa của ông) ông Tư Báo có cái bộ phận của đàn ông rất là đặc biệt. Hễ nước lớn thì bìu dái của ông phình lên thật to, còn khi nước sát ròng thì nó teo lại nhỏ xíu và thòng xuống. Nhiều lần rượu vô nổi hứng, có người hỏi ông vội thò tay vô cạp quần rồi phán: nước đang lớn hoặc đã đầy sông hay nước đang ròng hoặc sát. Mấy đứa nhỏ lí lắc chạy ùa ra sông kiểm chứng thì thấy đúng y như lời ông nói. Chưa có vị bác sĩ nào giải thích được hiện tượng này. Từ đó ông Tư Báo nổi danh và luôn là đề tài của mấy bà hay ngồi tụm năm tụm ba tán gẫu để cười cho đã. Ấy vậy mà hóa hay. Lúc này ông để mặc cho dòng ý nghĩ được tự do bay bổng. Ông ước gì con người ta đều có một bộ phận giống như ông Tư Báo nhưng lại cảm ứng được tất cả mọi thời tiết (chứ không riêng gì thiên nhiên) của con người trên hành tinh này thì có lẽ nhân loại sẽ được cứu rỗi rất nhiều. Ít ra là với ông không phải đau khổ như bây giờ vì những bước sai lầm trong cả cuộc đời. Nhưng thôi, giờ thì đã muộn, ông không còn phải hối tiếc. Trong lòng ông trống rỗng, không còn cả sự hờn giận. Ông chỉ muốn thực hiện nhanh chóng ý muốn của mình với một tâm hồn thanh thản trước khi trời rựng sáng. Ông vuốt ve chiếc thòng lọng mà trước đây nó là sợi dây giăng võng, giờ được ông mắc trên cành cây cao có rễ buông tua tủa. Chỉ cần ông đứng trên ghế đẩu thò đầu vào đến cổ đạp ngã ghế, là xong.
Nhưng trời ơi, nàng lại đến. Giữa vô vàn hình ảnh khêu gợi, gọi mời chập chờn, vụt hiện rồi tan rồi hiện lên phía bên kia chiếc võng, vẫn nổi bật gương mặt của nàng. Nàng hiển hiện trước mắt ông vô cùng gần gũi mà cũng vô cùng xa cách. Không, ông hiểu sẽ không bao giờ ông với được tới nàng. Cả người nàng toát lên vẻ nửa như thánh thiện nửa như ma quái. Gương mặt nàng uy nghi quá thể. Ông cảm nhận được ý nghĩ chính từ trong đôi mắt của nàng: Sợi dây thừng kia giờ trở nên vô dụng vì chính ông đã tròng vào từ mấy chục năm nay. Cũng chính từ lúc ấy nàng đã không còn đến với ông. Một cơn choáng đột ngột làm ông run bắn. Ông thất thểu quay vào nhà vì cảm nhận được cái ý định vừa rồi là vô nghĩa.
LỜI CUỐI TRUYỆN
Tôi viết câu chuyện này trong những ngày đoàn lưu diễn ở một xã vùng sâu, nhưng không mở màn được vì liên tiếp những trận mưa dầm. Nghệ sĩ trong đoàn kẻ thì ngồi co ro ở một góc sân khấu, người thì ngồi tụm năm tụm ba chuyện gẫu để quên đi nỗi buồn vắng khách. Những năm cuối thế kỉ này chuyện khán giả băng đồng lội ruộng sẵn sàng hứng chịu những cơn mưa để xem kỳ hết một tuồng tích chỉ là những giai thoại hay còn chăng là trong hồi ức của các bậc nghệ sĩ lão thành. Tôi, một anh kép hát tự nguyện gắn bó cả đời mình với sân khấu nhưng cũng tự biết mình chỉ là anh chuyên đóng vai phụ, mãi mãi vẫn là anh kép phụ. Bởi trong tôi có được nỗi đam mê thiên phú nhưng lại không có được chất giọng mùi mẫn, ngọt ngào, quyến rũ của một nghệ sĩ tài danh. Chị đạo diễn trẻ trong đoàn cứ thường phàn nàn tôi ca có lúc giọng ngang phè, làm người nghe cảm thấy chói tai. Giữa lúc cả đoàn đang đợi chị tới để tập tuồng mới, riêng tôi thì ngoài vai diễn ra còn phải luyện thêm chất giọng, tôi rủ người bạn diễn thân nhất của mình cũng là anh kép chánh ra quán đọc cho anh nghe truyện này. Nghe xong anh trố mắt nhìn tôi như vừa bắt gặp người từ hành tinh khác:
- Chú điên rồi hả? Chú có biết gì trong giới sáng tác, đạo diễn mà viết về họ? Rồi có anh chàng không tên nào đó xen vào nữa, để làm gì? Phiền phức và vô lý hết sức.
- Vô lý à?
- Ừ, vô lý. Nhân vật trong truyện cũ mèm và không thật. Nếu có thì ở một thời nào đó xa rồi, giờ tìm đâu ra được. Chú chỉ khéo tưởng tượng.
Không đợi tôi biện hộ tiếng nào, anh ta nạp luôn một hơi:
- Đó là chưa nói cái kết truyện nó làm người ta ấm ức. Sao chú không viết thêm ba năm sau con gái ông trở về như lời hứa khi mọi chuyện đã nguôi ngoai. Và niềm hạnh phúc càng lớn hơn nữa khi giờ đây ông còn có thêm đứa cháu ngoại, một bé trai bụ bẫm dễ thương. Tất cả rồi sẽ qua đi, những tháng ngày này ông bằng lòng với hạnh phúc mình đang có và thầm cám ơn cuộc đời đã dành phần ưu ái đối với ông. Nhưng thôi. Là bạn diễn với nhau anh khuyên chú đừng quên mình là anh kép hát. Bây giờ chú là kép phụ, chỉ cái tội chất giọng hơi chỏi nhưng khắc phục được chú sẽ đảm nhận được vai chính và sẽ nổi tiếng như anh. Hãy quên chuyện văn chương đi mà lo luyện giọng. Kìa, chị đạo diễn tới rồi.